- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22 - 02 - 2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Ngô Văn Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh Xuân và bà Hoàng Hải Yến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Quang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phương Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 784/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1994; Địa chỉ: 4 N, phường H, thành phố H; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Võ Xuân T, sinh năm 1994; Địa chỉ: Tổ I số nhà D N, phường P, thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 16/8/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N trình bày:
Chị Nguyễn Thị N và anh Võ Xuân T có thời gian tìm hiểu nhau khoảng hơn 01 năm thì quyết định kết hôn. Hai người đã được cha mẹ hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và đã tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P (nay là phường P, thành phố H), tỉnh Thừa Thiên Huế vào tháng 4/2018. Sau khi kết hôn, chị N và anh T chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Tình trạng mâu thuẫn kéo dài làm cho cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng và không có hạnh phúc nên chị N đã về nhà cha mẹ đẻ để ở từ hơn 03 năm nay. Hiện tại, giữa chị N và anh T không còn quan tâm đến nhau và tình cảm vợ chồng cũng không còn nên chị N khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị N khai có chung với anh Võ Xuân T 01 con chung, tên là Võ Hoàng Mẫn N1, sinh ngày 05/3/2018. Chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N1 và không yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Chị N khai không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ gồm: Giấy chứng nhận kết hôn (Bản chính); Trích lục khai sinh Võ Hoàng Mẫn N1 (Bản sao); Căn cước công dân Nguyễn Thị N và Võ Xuân T (Bản sao).
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng anh Võ Xuân T đều không đến Tòa án để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không có văn bản trình bày ý kiến cũng như cung cấp tài liệu chứng cứ gì. Phía nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải thêm nên Toà án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đều chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng, không có vi phạm gì cần phải kiến nghị khắc phục.
Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại các Điều 70 và 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
- Về sự vắng mặt của bị đơn: Anh Võ Xuân T đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
- Về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận, xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Võ Xuân T.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Võ Xuân T có 01 con chung, tên là Võ Hoàng Mẫn N1, sinh ngày 05/3/2018. Chị N có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu N1 và hiện tại cháu N1 cũng đang ở với chị N nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu N1 cho chị N nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Chị Nguyễn Thị N xác nhận không có và không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí ly hôn: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời khai của các đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn, cả nguyên đơn và bị đơn đều có nơi cư trú tại thành phố H. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Về sự vắng mặt của bị đơn: Anh Võ Xuân T đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng đều vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Xét về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Chị Nguyễn Thị N và anh Võ Xuân T kết hôn tự nguyện, đã được Ủy ban nhân dân xã P, huyện P (nay là phường P, thành phố H), tỉnh Thừa Thiên Huế cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 04/4/2018 nên quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T là hợp pháp. Theo lời trình bày của chị N thì sau khi kết hôn, hai người chung sống hạnh phúc khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra gây gổ cãi vả nhau mà không giải quyết được dẫn đến sống ly thân nhau, điều này phù hợp với tình trạng cuộc sống vợ chồng hiện tại giữa chị N và anh T. Trong thời gian sống ly thân, giữa chị N và anh T cũng không có phương án hàn gắn tình cảm vợ chồng, vẫn bỏ mặc và không còn quan tâm gì đến nhau. Anh T cũng đã nhận được các văn bản tố tụng của Toà án về việc chị N đang yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng suốt quá trình giải quyết vụ án, anh T đều không đến Tòa án để tham gia hòa giải nhằm tìm kiếm phương án để vợ chồng đoàn tụ, điều này chứng tỏ anh T cũng không thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng để tiếp tục cuộc sống hôn nhân với chị N. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh T đã thật sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng đã rạn nứt không thể hàn gắn nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Võ Xuân T.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Võ Xuân T có 01 con chung, tên là Võ Hoàng Mẫn N1, sinh ngày 05/3/2018. Trong thời gian ly thân nhau cho đến nay, cháu N1 do chị N nuôi dưỡng và chị N cũng có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N1. Do đó, Hội đồng xét xử xét cần giao cháu N1 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Chi Nguyễn Thị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nên anh T không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cháu N1 sau khi ly hôn.
Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Chị Nguyễn Thị N xác nhận không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí ly hôn: Buộc nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng các Điều 51, 56, 57 và 58 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Võ Xuân T.
2. Về con chung: Giao con chung tên là Võ Hoàng Mẫn N1, sinh ngày 05/3/2018 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Võ Xuân T không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí dân sự (ly hôn) sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí, nhưng được trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001004 ngày 03/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chị Nguyễn Thị N đã nộp đủ án phí ly hôn.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thi hành án dân sự năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TT – Huế (Phòng KTNV&THA); - VKSND thành phố Huế; - Các đương sự; - Chi cục THADS thành phố Huế; - UBND phường Phú Thượng, thành phố Huế; - Lưu HSVA, Tòa DS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Ngô Văn Nam |