- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mộng T - Trần Văn T1"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của bà Nguyễn Thị Mộng T đối với ông Trần Văn T1.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU -TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST Ngày: 02 - 02 - 2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thái
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Cơ
2. Ông Nguyễn Công Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Tuyến - Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 02 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 356/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về con chung khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/01/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18/01/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mộng T; sinh năm 1991; địa chỉ: số B đường P, phường H, quận L. Có mặt
- Bị đơn: Ông Trần Văn T1; sinh năm 1983; địa chỉ: số B đường P, phường H, quận L.Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mộng T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Văn T1 xây dựng gia đình vào năm 2018, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (Chứng nhận kết hôn số: 18). Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại nhà bà T ở số B đường P, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Cả hai chung sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn gay gắt cho đến nay; nguyên nhân do mâu thuẫn về kinh tế, ông T1 không có trách nhiệm với vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, đôi lúc còn xảy ra xô xát. Nay bà Nguyễn Thị Mộng T xác định không còn tình cảm với ông T1, mâu thuẫn đã trầm trọng, hôn nhân không đạt được mục đích nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Trần Văn T1.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mộng T xác định bà và ông Trần Văn T1 có 01 con chung là Trần Anh T2 - Sinh ngày 11/10/2018. Ly hôn, bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đ/tháng. Tại phiên tòa, bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Mộng T xác định bà và ông Trần Văn T1 không có tài sản chung, không có nợ chung.
* Bị đơn là ông Trần Văn T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn là ông Trần Văn T1 quá trình tố tụng không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không có ý kiến phản hồi là không tuân thủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đối với quan hệ hôn nhân: qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, có căn cứ xác định mâu thuẫn của vợ chồng giữa bà T và ông T1 đã trầm trọng, kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Về con chung: đề nghị căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông T1 không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: nguyên đơn xác định không có, bị đơn không có ý kiến nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
*Về tố tụng:
Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mộng T khởi kiện tranh chấp ly hôn đối với bị đơn là ông Trần Văn T1 có địa chỉ cư trú tại tổ E, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Trần Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
* Về nội dung vụ án:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mộng T và ông Trần Văn T1 tuân thủ đầy đủ các quy định về kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình, do vậy hôn nhân của ông bà hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn với ông T1, xét yêu cầu của nguyên đơn thì thấy:
Khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên theo bà T trình bày ông T1 không có trách nhiệm với gia đình nên vợ chồng mâu thuẫn, đôi lúc còn xô xát với nhau, điều này hoàn toàn phù hợp với kết quả xác minh của Tòa án. Mặt khác, trong suốt quá trình Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu giải quyết vụ án, ông T1 vắng mặt không có lý do, không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn, điều đó chứng tỏ ông T1 không có thiện chí trong việc khắc phục mâu thuẫn vợ chồng, hàn gắn quan hệ hôn nhân.
Do vậy, việc bà Nguyễn Thị Mộng T cho rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn T1 là có căn cứ, phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần được chấp nhận.
Về con chung: Theo bà Nguyễn Thị Mộng T xác định bà và ông Trần Văn T1 có 01 con chung là Trần Anh T2 - Sinh ngày 11/10/2018. Ly hôn, bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu của bà T thì thấy: việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn phải đảm bảo quyền lợi cho con chung. Xét thấy, cháu Trần Anh T2 là con gái và còn nhỏ nên cần có sự chăm sóc, dạy dỗ của người mẹ, do vậy việc tiếp tục giao cháu Anh T2 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp. bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Mộng T xác định ông và ông T1 không, không có tài sản chung và không có nợ chung; còn ông Trần Văn T1 không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Nguyễn Thị Mộng T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của bà Nguyễn Thị Mộng T đối với ông Trần Văn T1.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: xử cho bà Nguyễn Thị Mộng T ly hôn với ông Trần Văn T1.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Anh T2 - Sinh ngày 11/10/2018 cho bà Nguyễn Thị Mộng T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Các bên vẫn có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Mộng T xác định ông và ông T1 không có tài sản chung và không có nợ chung. Ông Trần Văn T1 không có ý kiến.
4. Án phí HNGĐ-ST: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Nguyễn Thị Mộng T phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 000000721550 ngày 17/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu. Bà T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKSND quận Liên Chiểu; - Chi cục T; - UBND xã N; - Lưu Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA DƯƠNG THỊ THÁI |