vanban.org

Bản án 11/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Mỹ D.

Về hôn nhân: Nguyên đơn Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với bị đơn Huỳnh Tấn Kh. Về con chung: Giao 01 con chung tên Huỳnh Tấn Kh, sinh ngày 23/4/2023 cho nguyên đơn Nguyễn Thị Mỹ D trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Mỹ D.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

________________________
Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28/02/2024
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Liên và ông Lương Tấn Nghị

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ý – Thư ký viên TAND huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện VKSND huyện Tây Hòa tham gia phiên tòa: Ông Dương Đức Hái – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 07/2024/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024, về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2023/QĐ-HPT ngày 19 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1999; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Bị đơn: Huỳnh Tấn Kh, sinh năm 1996; Vắng mặt.

Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Người làm chứng:

+ Văn Thị Bích L, sinh năm 1979; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên

+ Bùi Thị Hồng Ng, sinh năm 1965; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị Mỹ D trình bày: Bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Huỳnh Tấn Kh tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Phú Thứ, vào ngày 14/9/2022. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Ông Kh không quan tâm, chăm sóc vợ con, là người chồng không có trách nhiệm, thường kiếm cớ kình chửi bà D và gia đình bà D. Mặc dù hai bên gia đình đã khuyên ngăn nhiều lần nhưng hai vợ chồng không thể hòa hợp được. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7/2023 cho đến nay, không ai quan tâm ai, mạnh ai nấy sống, không cùng chí hướng xây dựng hạnh phúc gia đình. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không tồn tại nên bà D yêu cầu được ly hôn với ông Kh.

Về con chung: Có 01 con chung tên Huỳnh Tấn Kh, sinh ngày 23/4/2023, hiện cháu Khải đang do bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn, bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Huỳnh Tấn Kh; không yêu cầu ông Kh cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Bà D không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn ông Huỳnh Tấn Kh được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn; về con chung: Giao 01 con chung tên Huỳnh Tấn Kh, sinh ngày 23/4/2023 cho nguyên đơn Duyên trực tiếp nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xét; về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xét. Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Các đương sự tranh chấp về ly hôn, là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn có nơi cư trú hiện nay tại: Khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

[1.2] Nguyên đơn, người làm chứng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án, nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 BLTTDS.

[2] Xét yêu cầu của đương sự:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Nguyễn Thị Mỹ D và bị đơn Huỳnh Tấn Kh tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, vào ngày 14/9/2022 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vả và sống ly thân từ tháng 7/2023 cho đến nay. Mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm ai, đúng như xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn P tại biên bản xác minh ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

Ý kiến bà Văn Thị Bích L là mẹ ruột của nguyên đơn và bà Bùi Thị Hồng Ng là mẹ ruột của bị đơn cho biết hôn nhân giữa bà D vào ông Kh không hạnh phúc, xảy ra nhiều mẫu thuẫn, đã sống ly thân từ tháng 7/2023 cho đến nay, không ai quan tâm ai, mạnh ai nấy sống đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Như vậy, đủ cơ sở xác định, mâu thuẫn giữa bà D và ông Kh đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Mỹ D như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

[2.2] Về con chung: Có 01 con chung tên Huỳnh Tấn Kh, sinh ngày 23/4/2023, hiện do nguyên đơn đang nuôi dưỡng. Xét thấy, con chung Huỳnh Tấn Kh dưới 36 tháng tuổi, còn nhỏ rất cần có sự quan tâm chăm sóc và dạy dỗ của người mẹ để cháu có thể phát triển tốt về mọi mặt nên xét cần thiết giao con chung Huỳnh Tấn Kh cho bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Để tạo điều kiện cho cháu Khải phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; giao cháu Huỳnh Tấn Kh cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xét.

[2.4] Về tài sản: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn Huỳnh Tấn Kh phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 BLTTDS;

Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Mỹ D.

1. Về hôn nhân: Nguyên đơn Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với bị đơn Huỳnh Tấn Kh.

2. Về con chung: Giao 01 con chung tên Huỳnh Tấn Kh, sinh ngày 23/4/2023 cho nguyên đơn Nguyễn Thị Mỹ D trực tiếp nuôi dưỡng.

Bị đơn Huỳnh Tấn Kh không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Nguyên đơn Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012177 ngày 04/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

4. Về kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ