vanban.org

Bản án 11/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc H: Xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với anh Vũ Đức H1.

2/ Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được trừ số tiền 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số: 0000856 ngày 28/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Lô. Chị H đã nộp đủ án phí. 3/ Án xử công khai, các đương sự vắng mặt c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc H: Xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với anh Vũ Đức H1.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG LÔ
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST
Ngày 20 tháng 6 năm 2024
V/v:"Tranh chấp hôn nhân và gia
đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ,TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kiên Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hùng.

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hòa – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 21/2024/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc "Tranh chấp hôn nhân và gia đình", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐST - HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/QĐ ngày 30/5/2024, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1990 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Nơi đăng ký HKTT: thôn S, xã C, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi ở hiện nay: thôn Q, xã S, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

2/ Bị đơn: Anh Vũ Đức H1, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn S, xã C, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 02 năm 2024, những lời trình bày tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Ngọc H trình bày: Chị kết hôn với anh Vũ Đức H1 ngày 23/12/2013 đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã C, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn chị về làm ăn chung sống cùng gia đình anh H1 ngay. Quá trình vợ chồng chung sống thường xuyên xảy ra mẫu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống về lối sống, cách làm kinh tế nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, mặc dù vợ chồng sống chung nhà nhưng không ai quan tâm chăm sóc đến nhau. Mặt khác vợ chồng chị kết hôn đã lâu mà chưa có con chung, đến tháng 5/2018 thì chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Q, xã S. huyện Lập Thạch sinh sống đến nay, khi vợ chồng sống ly thân giữa chị và anh H1 đã nhiều lần gặp gỡ để hòa giải mâu thuẫn để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không thành. Nay chị xác định đời sống chung vợ chồng không có hạnh phúc, vợ chồng sống ly thân đã lâu không thể hàn gắn được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng

- Về con chung: Vợ chồng chị không có con chung.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị không đề nghị Toà án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Vũ Đức H1 trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đều vắng mặt không có lý do, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H1 không đến Tòa án làm việc, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ, phiên hòa giải. Anh Hoàng cũng không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện đề nghị giải quyết ly hôn của chị H. Tại phiên tòa anh H1 vắng mặt mặc dù đã được tống đạt giấy báo hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã xác minh tại gia đình anh H1 và Uỷ ban nhân dân xã C đều xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng chị H, anh H1 là trầm trọng, hiện nay anh H1 đang sinh sống và thường xuyên có mặt tại địa phương, anh H1 và gia đình có biết việc chị H xin ly hôn anh nhưng không đến Tòa án làm việc.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng: Quá trình nhận đơn, thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ Thẩm phán đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự; Tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn vắng mặt không có lý do không chấp hành đúng quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô không có yêu cầu hay kiến nghị gì.

Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc H. Xử cho Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn anh Vũ Đức H1.

Các vấn đề về con chung, tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Không xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Chị H phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng dân sự: Chị Nguyễn Thị Ngọc H khởi kiện anh Vũ Đức H1 tranh chấp về quan hệ hôn nhân và gia đình, chị H có quyền khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Hoàng. Bị đơn anh H1 có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn S, xã C, huyện Sông Lô và có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Sông Lô giải quyết nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Sông Lô. Các đương sự tham gia tố tụng đảm bảo năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự. Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử xác định thủ tục tố tụng trong vụ án đảm bảo theo các quy định tại các Điều 28, 35, 39, 69 và Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa cả chị H có đơn xin xét xử vắng mặt đúng quy định. Anh H1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị H, anh H1

Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Ngọc H và anh Vũ Đức H1 là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Sông Lô. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng mẫu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống về lối sống, cách làm kinh tế nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, mặc dù vợ chồng sống chung nhà nhưng không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Mặt khác vợ chồng chị H tuy kết hôn đã lâu nhưng không có con chung, đến tháng 5/2018 thì chị H về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Q, xã S. huyện Lập Thạch sinh sống đến nay, khi vợ chồng sống ly thân giữa chị và anh H1 đã nhiều lần gặp gỡ để hòa giải mâu thuẫn để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không thành.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh tại gia đình anh Vũ Đức H1 và Uỷ ban nhân dân xã C thể hiện mâu thuẫn giữa vợ chồng là trầm trọng. Anh H1 biết việc mình được Toà án triệu tập để giải quyết việc chị H xin ly hôn anh nhưng anh H1 cố tình vắng mặt không đến Tòa án làm việc thể hiện anh H1 gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án chị H yêu cầu ly hôn và không có mong muốn để vợ chồng về đoàn tụ. Xét tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh H1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị H xin ly hôn anh H1 là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn anh Vũ Đức H1 là phù hợp.

Về con chung, về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị H không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét quyết định.

Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình. Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc H: Xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với anh Vũ Đức H1.

2/ Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được trừ số tiền 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số: 0000856 ngày 28/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Lô. Chị H đã nộp đủ án phí.

3/ Án xử công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ