- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Lò Thị N xin ly hôn anh, Lò Văn C"
- Tòa quyết gì? Xử cho chị Lò Thị N được ly hôn anh Lò Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10-9-2024. V/v: Xin ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lý Thị Dung.
2. Ông Hoàng Hồng Hải.
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2024//TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị N, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Bản Đông, xã Tường Phù, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La - Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Lò Văn C, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Bản Bùa Hạ, xã Tường Phù, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 08/7/2024 và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lò Thị N trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị N và anh Lò Văn C kết hôn với nhau ngày 04 tháng 5 năm 2020 tại Uỷ ban nhân dân xã Tường Phù, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Khi kết hôn hai anh, chị đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không thuộc các trường hợp cấm kết hôn. Cuộc sống chung của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị bất đồng quan điểm sống từ đó phát sinh nhiều mâu thuẫn trong gia đình. Đến tháng 3 năm 2024 chị Lò Thị N đã về sống tại gia đình nhà ngoại tại bản Đông, xã Tường Phù, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên hoà giải nhưng không thành. Hai anh, chị đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2024 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị Lò Thị N làm đơn đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lò Văn C.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Chị và anh tự thỏa thuận phân chia, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị và anh tự thỏa thuận phân chia, thanh toán, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Lò Thị N xin chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Tại Đơn đề nghị vắng mặt tại phiên hoà giải và tại phiên toà ngày 06/8/2024, Bản tự khai ghi ngày 06/8/2024 có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã Tường Phù, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La anh Lò Văn C trình bày:
Về quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng anh hoàn toàn nhất trí như ý kiến của chị Lò Thị N trình bày. Vợ chồng anh chị kết hôn với nhau ngày 04/5/2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tường Phù, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 3 năm 2024 thì vợ chồng anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn do không tìm được tiếng nói chung, tình cảm không thể hàn gắn được. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2024 cho đến nay. Mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Chị Lò Thị N có đơn đề nghị xin ly hôn với anh, ý kiến của anh Lò Văn C là nhất trí ly hôn.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Anh, chị tự thỏa thuận phân chia, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Anh, chị tự thỏa thuận phân chia, thanh toán, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên như sau:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký Tòa án: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử, nghị án Thẩm phán và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm.
+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng:
Đối với nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
Đối với bị đơn, sau khi thụ lý vụ án bị đơn đã được Toà án thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn biết về việc khởi kiện của nguyên đơn, đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Toà án, bị đơn xin được giải quyết, xét xử vắng mặt. Toà án áp dụng khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án là đúng với quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án như sau: Căn cứ Điều 56, 59 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử cho Chị Lò Thị N được ly hôn với anh Lò Văn C.
- Về con chung: Không có
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh, chị tự thỏa thuận phân chia, không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Tài sản riêng: Không có.
- Về án phí: Chị Lò Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Bị đơn anh Lò Văn C có đơn xin xét xử vắng mặt có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã Tường Phù, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Trong quá trình giải quyết vụ án về phía bị đơn anh Lò Văn C đã được nhận tài liệu gồm Đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu khác do nguyên đơn cung cấp, đã nhận được văn bản tố tụng của Toà án. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị N và anh tự thoả thuận kết hôn với nhau ngày 04 tháng 5 năm 2020. Khi kết hôn hai anh, chị đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện không thuộc các trường hợp cấm kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tường Phù, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Do đó quan hệ hôn nhân của chị Lò Thị N và anh Lò Văn C là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Cuộc sống chung của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến tháng 3 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do anh, chị bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã được gia đình hai bên khuyên ngăn, hoà giải nhưng không có kết quả, hai anh, chị đã sống ly thân từ đó cho đến nay, không bên nào chăm lo đến cuộc sống chung của gia đình nữa. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Lò Thị N và anh Lò Văn C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho Chị Lò Thị N được ly hôn anh Lò Văn C.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh, chị tự thỏa thuận, phân chia, thanh toán không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tài sản riêng: Không có.
Về án phí: Chị Lò Thị N phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 56, 59 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Xử cho chị Lò Thị N được ly hôn anh Lò Văn C.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh, chị tự thỏa thuận phân chia, thanh toán không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4 .Tài sản riêng: Không có.
4. Về án phí: Chị Lò Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La theo biên lai thu tiền số: BLTU/23/0000545 ngày 07 tháng 8 năm 2024.
5. Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 10/9/2024).
Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Phù Yên; - Chi cục THADS huyện Phù Yên; - UBND xã Tường Phù, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; (để vào sổ hộ tịch) ; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Anh Đức |