- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:11/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17/9/2024 Về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Vương
Các Hội thẩm nhân dân :
1. Bà Vy Thị Hoàng Dung
2. Bà Trần Thị Ngọc Duyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thế Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân nhân dân huyện KS, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Khánh Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 13/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: - Chị Cao Thị K, sinh năm: 1991
Nơi cư trú: Thôn HN, xã SL, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt).
* Bị đơn: - Anh Bo Bo Xuân C, sinh năm: 1992
Nơi cư trú: Thôn HN, xã SL, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về yêu cầu ly hôn ngày 22/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Cao Thị K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị K và anh C tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2012, nhưng đến năm 2013 mới đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã SL, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 18/2013, quyển số 01/2011 ngày 21/5/2013.
Quá trình chung sống: Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hoà thuận hạnh phúc, nhưng hai năm gần đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Bo Bo Xuân C thường xuyên đánh đập chị K, không có trách nhiệm với gia đình. Chị K cũng đã nhiều lần khuyên bảo anh C, ngồi lại với nhau để hòa giải nhưng anh C không thay đổi và vẫn còn đánh đập chị K. Nay chị K nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị K yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn với anh Bo Bo Xuân C.
Về con chung: Chị K và anh C có 02 (hai) con chung là các cháu: Bo Bo Minh K, sinh ngày 11/03/2014 và cháu Bo Bo Thị Mỹ L, sinh ngày 14/02/2018. Khi ly hôn, chị K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung là các cháu Bo Bo Minh K và Bo Bo Thị Mỹ L.
Về cấp dưỡng: Chị Cao Thị K không yêu cầu anh Bo Bo Xuân C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Cao Thị K không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Bo Bo Xuân C vắng mặt: Anh Bo Bo Xuân C đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhiều lần, nhưng anh C vắng mặt.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Khánh Hòa:
- Việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình tiến hành giải quyết vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự; bị đơn đã vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự.
- Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về yêu cầu ly hôn, yêu cầu nuôi con, ghi nhận sự tự nguyện của chị Cao Thị K về không yêu cầu anh Bo Bo Xuân C cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm về “ly hôn” cho chị Cao Thị K.
Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:
* Nguyên đơn cung cấp:
- Bản chính giấy chứng nhận kết hôn;
- Bản sao giấy khai sinh;
- Bản sao trích lục cải chính hộ tịch mang tên Bo Bo Minh K1
- Bản sao giấy khai sinh, trích lục cải chính hộ tịch mang tên Bo Bo Thị Mỹ L;
- Bản sao căn cước công dân mang tên Cao Thị K.
* Tòa án thu thập chứng cứ:
- Biên bản xác minh ngày 13/6/2024.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Cao Thị K yêu cầu Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Khánh Hòa giải quyết về ly hôn và nuôi con chung đối với anh Bo Bo Xuân C nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Bo Bo Xuân C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng anh Bo Bo Xuân C vắng mặt. Xét thấy bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Chị Cao Thị K và anh Bo Bo Xuân C tự nguyện chung sống với từ nhau năm 2012, đến năm 2013 mới đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã SL, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 18/2013, quyển số 01/2011 ngày 21/5/2013, nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống: Vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do anh Bo Bo Xuân C thường xuyên đánh đập chị K, không có trách nhiệm với gia đình, chị K cũng đã nhiều lần khuyên bảo, ngồi lại với nhau để hòa giải nhưng anh C không thay đổi và vẫn còn đánh đập chị K. Nay chị K nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị K yêu cầu Tòa án cho chị K được ly hôn với anh Bo Bo Xuân C.
Xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị K yêu cầu Toà án giải quyết cho chị K được ly hôn là hoàn toàn có cơ sở và cần được chấp nhận. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K.
Về con chung: Chị Cao Thị K và anh Bo Bo Xuân C có 02 con chung là cháu Bo Bo Minh K1, sinh ngày 11/03/2014 và cháu Bo Bo Thị Mỹ L, sinh ngày 14/02/2018. Khi ly hôn, chị K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung là các cháu Bo Bo Minh K1 và Bo Bo Thị Mỹ L.
Xét thấy: Việc giao con chưa thành niên cho người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, nhằm để con phát triển tốt về thể chất và tinh thần, hiện nay các cháu Bo Bo Minh K1 và Bo Bo Thị Mỹ L đang sống ổn định với chị K, cháu K1 đã trên 10 tuổi và có nguyện vọng ở với mẹ, cháu Bo Bo Thị Mỹ L dưới 7 tuổi, nên cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ. Do đó, để đảm bảo cho các cháu được phát triển toàn diện về tâm sinh lý và lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên được đầy đủ, nên căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của chị K.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Cao Thị K về không yêu cầu anh Bo Bo Xuân C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
Các khoản nợ chung: Không có.
Về án phí: Chị Cao Thị K là người đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống tại thôn HN, xã SL, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa là nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí dân sự sơ thẩm về “ly hôn” cho chị Cao Thị K.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị K được ly hôn anh Bo Bo Xuân C.
[2]. Về con chung: Chị Cao Thị K được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 (hai) con chung là các cháu: Bo Bo Minh K1, sinh ngày 11/03/2014 và cháu Bo Bo Thị Mỹ L, sinh ngày 14/02/2018.
[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Cao Thị K về việc không yêu cầu anh Bo Bo Xuân C cấp dưỡng nuôi con.
Không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.
[4]. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
[5]. Về nợ chung: Không có.
[6]. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí dân sự sơ thẩm về “ly hôn” cho chị Cao Thị K.
[7]. Quyền kháng cáo: Chị Cao Thị K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; anh Bo Bo Xuân C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện KS; - THADS huyện KS; - UBND xã SL, huyện K S; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trương Văn Vương |