vanban.org

Bản án 11/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Đàm Thị Ch và anh Vũ Văn Tr. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Đàm Thị Ch phải chịu 300.000 đồng. Chị Ch được đối trừ khoản tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Ch đã nộp theo biên lai số 0001026 ngày 08/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chiên- Trang"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự HĐXX
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST
Ngày 17- 4- 2024
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mạnh Xuân Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Quốc Vũ và ông Nguyễn Văn Thể;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Minh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2024/QĐST - HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đàm Thị Ch, sinh năm 1999; nơi cư trú: Tổ dân phố Đông H, phường Duy H, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Vũ Văn Tr, sinh năm 1999; nơi cư trú: Tổ dân phố Tam Gi, phường Duy H, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đàm Thị Ch trình bày: Chị và anh Vũ Văn Tr đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 17/11/2022 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Duy Hải, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống hòa thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nên giữa vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, nhiều lần vợ chồng xảy ra xô xát và cả hai đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2023 đến nay không quan tâm đến nhau. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Tr.

Về con chung: Chị Đàm Thị Ch xác định vợ chồng chị không có con chung, con nuôi nên khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công sức, công nợ: Chị Ch không yêu cầu giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên đã gửi Thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn anh Vũ Văn Tr. Tại biên bản ngày 18/12/2023 thể hiện chính quyền địa phương đã tống đạt được văn bản Thông báo thụ lý vụ án đối với anh Vũ Văn Tr. Sau đó, Toà án nhiều lần báo gọi anh Tr đến làm việc tại trụ sở Toà án cũng như triệu tập anh Tr đến trụ sở UBND phường Duy Hải làm việc, nhưng các lần đó anh Tr đều vắng mặt không có lý do. Toà án phối hợp cùng chính quyền địa phương làm thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định.

Kết quả xác minh chính quyền phường Duy Hải cung cấp: chị Đàm Thị Ch và anh Vũ Văn Tr đăng ký kết hôn vào ngày 17/11/2022 tại UBND phường Duy Hải; vợ chồng chỉ hòa thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và vợ chồng đã sống ly thân nhau từ khoảng tháng 6 năm 2023 đến nay, chị Ch đã về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ. Hiện nay anh Vũ Văn Tr vẫn đăng ký nhân khẩu thường trú và vẫn sinh sống tại tổ dân phố Tam Giáp, phường Duy Hải, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Về con chung: vợ chồng chưa có con chung. Nay chị Ch xin ly hôn anh Tr đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật để giải quyết.

Tại phiên tòa chị Ch giữ nguyên quan điểm xin ly hôn của mình.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án là đúng và đề nghị HĐXX áp dụng Điều 28,35,39,147, 227, 228 BLTTDS; các Điều 51, 56 Luật HN&GĐ; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội. Xử ly hôn giữa chị Đàm Thị Ch và anh Vũ Văn Tr. Về con chung, về tài sản chung, công nợ, công sức: Do các đương sự không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về án phí HNGĐ: Nguyên đơn chị Ch phải chịu theo quy định.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, sau khi thảo luận và nghị án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn anh Vũ Văn Tr, tuy nhiên đây là lần thứ hai anh Tr vắng mặt tại phiên tòa không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, căn cứ điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đàm Thị Ch và anh Vũ Văn Tr kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân phường Duy Hải, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tổ chức đăng ký kết hôn ngày 17/11/2022.

Về quan hệ tình cảm vợ chồng: Theo chị Đàm Thị Ch trình bày vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, dẫn đến việc xảy ra xô xát nhau và vợ chồng đã tự sống ly thân từ tháng 6 năm 2023 đến nay không quan tâm đến nhau.

Sau khi thụ lý vụ án, mặc dù bị đơn là anh Vũ Văn Tr đã biết về việc Tòa án thụ lý vụ án xin ly hôn giữa chị Đàm Thị Ch đối với anh, nhưng anh Tr không có mặt tại các buổi làm việc theo lịch của Tòa án cũng như không có ý kiến nào phản hồi của anh về vụ án. Điều này thể hiện việc bị đơn là anh Tr không hợp tác với Tòa án trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Căn cứ các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, HĐXX xác định quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị Ch và anh Tr đã mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và cho dù kéo dài tình trạng sống ly thân như hiện nay của vợ chồng cũng không đem lại hạnh phúc. Vì vậy, HĐXX cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ch đối với anh Tr theo quy định tại các Điều 51 và 56 Luật HN&GĐ là phù hợp với thực tế và pháp luật.

Về con chung: vợ chồng không có con chung, con nuôi nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, công nợ, công sức: Do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Các Điều 28; 35; 39; 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Các Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình;

- Nghị quyết số: 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Đàm Thị Ch và anh Vũ Văn Tr.

2. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Đàm Thị Ch phải chịu 300.000 đồng. Chị Ch được đối trừ khoản tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Ch đã nộp theo biên lai số 0001026 ngày 08/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên.

Báo cho nguyên đơn chị Đàm Thị Ch có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Vũ Văn Tr vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ