vanban.org

Bản án 11/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Đình H Về con chung: Giao con Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 21/8/2006 và Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 12/11/2009 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Đình H không pH đóng gó… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ-ST"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N:
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM XUYÊN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST
Ngày:
22/5/2024
V/v xin ly hôn và tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diệu Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Cẩm Lương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xét xử theo thủ tục rút gọn sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 58/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXX-ST ngày 13/5/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1977; Trú tại: TDP Trần P, thị trấn Thiên C, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đình H, sinh năm 1977; Trú tại: TDP Trần P, thị trấn Thiên C, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị N và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, vụ án có nội dung: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Đình H đăng ký kết hôn tại UBND xã Cẩm N, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh ngày 23/7/2004; hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn là do tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm, anh H không có trách nhiệm gì đối với vợ con; vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không ai tìm cách hàn gắn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên chị Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Đình H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 21/8/2006 và Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 12/11/2009. Nguyện vọng của chị Nguyễn Thị N muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh Nguyễn Đình H pH đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung; không nợ ai và không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của bị đơn anh Nguyễn Đình H: Anh H thống nhất như chị Nguyễn Thị N trình bày, hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 đến nay, không tìm cách để hàn gắn tình cảm. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên anh đồng ý ly hôn; Về con chung: Anh H có nguyện vọng được nhường hai con Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 21/8/2006 và Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 12/11/2009 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh H không pH đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng không tạo lập được tài sản gì chung, vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh Nguyễn Đình H còn đề nghị Tòa án không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và các buổi làm việc khác. Đề nghị Tòa án giải quyết trong thời gian sớm nhất để anh và chị N sớm ổn định cuộc sống.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên tại phiên tòa:

Về việc tuân theo tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tại phiên tòa các thành viên Hội đồng xét xử có mặt đầy đủ, không có trường hợp pH thay đổi người tiến hành tố tụng; Quá trình xét xử đã tuân theo quy định của phiên tòa dân sự sơ thẩm theo thủ tục rút gọn nên không yêu cầu khắc phục vi phạm về thủ tục tố tụng; Tòa án đã tiến hành tống đạt, thu thập tài liệu, chứng cứ đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn có mặt và bị đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, việc xét xử vắng mặt bị đơn là đảm bảo theo quy định tại Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Khoản 1 Điều 320 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 317, Khoản 1 Điều 320, Điều 322 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 1 Điều 24, Khoản 7 Điều 26, Điểm a Khoản 5, Điểm b Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Đình H; Về con chung: Giao con Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 21/8/2006 và Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 12/11/2009 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh H không pH đóng góp cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị N pH chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị N khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Đình H, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; anh Nguyễn Đình H có nơi đăng ký HKTT và chổ ở: TDP Trần P, thị trấn Thiên C, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã đề nghị vắng mặt tại các buổi làm việc, tiếp cận công khai chứng cứ và hỏa giải và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 và Khoản 1 Điều 320 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa của chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Đình H đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn UBND xã Cẩm N, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh ngày 23/7/2004. Căn cứ các quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, theo chị N nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm, anh H không có trách nhiệm gì đối với vợ con. Từ năm 2020 đến nay vợ chồng sống ly thân, không ai tìm cách hàn gắn tình cảm. Tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị có nguyện vọng được ly hôn, giải phóng cho hai người để mỗi người có cuộc sống riêng, tốt đẹp hơn.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Đình H cũng thừa nhận vợ chồng đã sống ly thân, không ai tìm cách hàn gắn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên nên anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị N.

Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, vợ chồng thương yêu, tôn trọng, quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau… nhưng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Đình H không đạt được mục đích đó, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không ai tìm cách hàn gắn tình cảm, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Đình H.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Đình H thống nhất có 02 con chung là Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 21/8/2006 và Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 12/11/2009. Nguyện vọng của chị N mong muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh H đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Đình H đồng ý nhường quyền nuôi con cho chị N. Mặt khác, từ năm 2020 đến nay chị N là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai con, nay các con trên 07 tuổi và có đơn nguyện vọng mong muốn được ở với mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao con Nguyễn Thị Hồng N và Nguyễn Thị Khánh L cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh H không pH đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn pH chịu án phí theo luật định.

Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 317, Khoản 1 Điều 320, Điều 322 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 53, Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 1 Điều 24, Khoản 7 Điều 26, Điểm a Khoản 5, Điểm b Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Đình H

- Về con chung: Giao con Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 21/8/2006 và Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 12/11/2009 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Đình H không pH đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.

2. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N pH chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Xuyên theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009218 ngày 26/4/2024. Tiền án phí chị Nguyễn Thị N đã nộp đủ.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 07 ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ