vanban.org

Bản án 11/2024/HNGĐ-PT — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 20/06/2024 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/06/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị Bích P.

Sửa Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận C như sau: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con của ông Đặng Minh S đối với bà Phan Thị Bích P. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Minh S - Phan Thị Bích P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị Bích P.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HNGĐ-PT
Ngày 20 - 6 - 2024
V/v tranh chấp về thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Phi Yến

Các Thẩm phán: Ông Ngô Hà Nam

Bà Đỗ Thị Thúy Năng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết Mai, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Mạnh, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2024/HNGĐ-PT ngày 23 tháng 4 năm 2024 về việc “tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”. Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận C, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 09/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đặng Minh S, sinh năm: 1989; Địa chỉ: Tổ 4, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (có mặt);

Bị đơn: Bà Phan Thị Bích P, sinh năm: 1998; Địa chỉ: Số 33 đường N, tổ 3, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (có mặt);

Người kháng cáo: Bị đơn bà Phan Thị Bích P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn ông Đặng Minh S trình bày:

Theo Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án số 186/2021/QĐST-HNGĐ ngày 01/6/2021 của Tòa án nhân dân quận C, thành phố Đà Nẵng thì ông và bà Phan Thị Bích P đã thỏa thuận giao con chung là Đặng Phan Văn Minh T, sinh ngày 01/10/2019 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng; ông cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; thời gian thực hiện cấp dưỡng thực hiện bắt đầu từ tháng 6 năm 2021. Nay ông nhận thấy bà P không đảm bảo điều kiện chăm sóc con và có hành vi cản trở việc ông thăm nom, chăm sóc con chung nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, giao con Đặng Phan Văn Minh T cho ông được nuôi dưỡng, ông không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con chung. Ông xác định từ tháng 6 năm 2021 đến nay, ông đã thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con số tiền mỗi tháng 2.000.000 đồng, có lúc ông giao tiền mặt hoặc chuyển khoản cho bà P. Ông đã thực hiện cấp dưỡng nuôi con được 14 đến 15 tháng. Những tháng gần đây, ông đều cấp dưỡng nuôi con đầy đủ.

Hiện nay ông đang làm công việc là lái xe giao hàng, thu nhập mỗi tháng khoảng 10.000.000 đồng nên ông đảm bảo điều kiện nuôi con chung. Ông yêu cầu thay đổi người nuôi con chung là do ông thấy hoàn cảnh gia đình bà P phức tạp dễ ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của con ông. Hơn nữa, thu nhập của bà P không đảm bảo để nuôi con. Hiện nay, bà P đã lập gia đình và có 01 con trai chung với chồng mới nên khó khăn trong việc cùng lúc chăm sóc và nuôi dưỡng cả hai con nhỏ. Việc bà P có gia đình mới cũng làm ảnh hưởng đến quyền thăm nuôi, chăm sóc của ông đối với cháu T. Ngoài ra, bà P đang sống cùng nhà với ba mẹ của bà, gia đình sống chung nhiều thế hệ, anh em con cháu đông, phần thì anh em bà P thường xuyên nhậu nhẹt bê tha, gây rối trong gia đình và hàng xóm nên môi trường sống sẽ làm ảnh hưởng đến việc chăm sóc cũng như giáo dục đối với cháu T. Với điều kiện kinh tế hiện nay, ông vẫn còn độc thân, đang sống cùng mẹ và em gái nên ông cũng sẽ được sự hỗ trợ giúp đỡ từ mẹ và em gái để chăm sóc cháu T. Do vậy, ông đề nghị Tòa án giao cháu T cho ông được trực tiếp nuôi dưỡng. Ông không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con chung.

* Bị đơn bà Phan Thị Bích P trình bày:

Bà và ông Đặng Minh S thuận tình ly hôn theo Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án số 186/2021/QĐST-HNGĐ ngày 01/6/2021 của Tòa án nhân dân quận C. Về con chung, bà và S đã thỏa thuận giao con chung Đặng Phan Văn Minh T, sinh ngày 01/10/2019 cho bà trực tiếp nuôi dưỡng; ông S cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi; thời gian thực hiện cấp dưỡng thực hiện bắt đầu từ tháng 6 năm 2021.

Sau khi ly hôn, bà trực tiếp nuôi dưỡng cháu T cho đến nay. Hiện bà đang làm công việc bán đồ ăn tại nhà và bán hàng trên Facebook với mức thu nhập hàng tháng là 10.000.000 đồng nên về kinh tế bà đảm bảo điều kiện để tiếp tục nuôi dưỡng cháu T. Bà xác nhận hiện nay bà đã có gia đình mới và sinh thêm được một con trai với chồng mới nhưng bà vẫn đảm bảo được điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc cháu T.

Đối với việc ông S cho rằng bà và gia đình bà không đảm bảo điều kiện chăm sóc cháu T là không đúng. Trước đây, bà đã cho cháu T đi học tại nhóm trẻ gia đình nhưng từ tháng 3 năm 2023 đến nay, bà cho cháu T học tại trường Mầm non A. Từ thời điểm giao con cho bà nuôi đến nay thì bà và gia đình bà không hề cản trở ông S thăm con như ông S đã trình bày. Vào cuối mỗi tuần bà đều để cho ông S hoặc em gái ông S chở cháu T về nhà nội chơi. Từ khi ly hôn cho đến nay, ông S chỉ thực hiện cấp dưỡng nuôi con được khoảng 8 đến 9 tháng, có lúc ông S giao tiền trực tiếp, có lúc chuyển khoản cho bà. Nay ông S yêu cầu thay đổi người nuôi con và đề nghị giao cháu T cho ông S nuôi dưỡng, bà không đồng ý vì bà vẫn đảm bảo được điều kiện về kinh tế và thời gian để chăm sóc đối với cháu T.

Quyết định của bản án sơ thẩm như sau:

Căn cứ: Các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 147, Điều 266 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Minh S đối với bà Phan Thị Bích P về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn”.

Giao con chung là cháu Đặng Phan Văn Minh T, sinh ngày 01/10/2019 cho ba là ông Đặng Minh S trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Phan Thị Bích P không phải cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu Đặng Phan Văn Minh T. Bên không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án cho các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 15/3/2024, bị đơn bà Phan Thị Bích P nộp đơn kháng cáo, bà P không đồng ý với bản án sơ thẩm, bà cho rằng quyết định của Tòa sơ thẩm làm ảnh hưởng rất nghiêm trọng dến quyền và lợi ích hợp pháp của bà nên bà đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về thay đổi người nuôi con của ông Đặng Minh S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xö nhận định:

Về tố tụng:

Ngày 15/3/2024, bị đơn bà Phan Thị Bích P nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, xét thấy đơn kháng cáo hợp lệ theo quy định tại Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được HĐXX chấp nhận xem xét kháng cáo.

Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Phan Thị Bích P thì thấy:

Ngày 01/6/2021, ông Đặng Minh Sơn và bà Phan Thị Bích P thuận tình ly hôn theo Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án số 186/2021/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân quận C. Theo nội dung quyết định, ông S và bà P thỏa thuận giao con Đặng Phan Văn Minh T, sinh ngày 01/10/2019 cho bà P nuôi dưỡng; ông S cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi; thời hạn cấp dưỡng từ tháng 6 năm 2021.

Kể từ thời điểm tháng 6 năm 2021, bà P trực tiếp nuôi dưỡng cháu T cho đến nay. Ông Sơn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000 đồng cho bà P để nuôi dưỡng cháu T. Tuy nhiên đến tháng 5 năm 2023, ông S nộp đơn khởi kiện đề nghị thay đổi người nuôi dưỡng cháu T, ông yêu cầu Tòa án xem xét cho ông được quyền nuôi dưỡng cháu T, ông không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông S trình bày lý do ông thay đổi người nuôi con là do bà P lập gia đình và có con với người chồng mới nên sẽ gặp khó khăn trong việc nuôi dạy hai con, ngoài ra thu nhập cũng như điều kiện về chỗ ở, về môi trường sống của gia đình bà P không đảm bảo cho cuộc sống của cháu T.

Căn cứ kết quả xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm thể hiện, thực tế từ sau khi ly hôn, bà P nhận nuôi dưỡng cháu T vẫn đảm bảo cuộc sống cho cháu về mặt vật chất cũng như tinh thần. Mặc dù bà P lập gia đình mới nhưng chồng bà vẫn đối xử tốt với cháu T, thường xuyên chở cháu đi học chăm lo cho cháu, bà P có công việc buôn bán tại nhà và mức thu nhập ổn định. Ngoài ra, bà P vẫn tạo điều kiện cho ông S hằng tuần được thăm nom chăm sóc cháu T. HĐXX xét thấy, cuộc sống của cháu T đang ổn định, hơn nữa hiện nay cháu mới 04 tuổi 08 tháng rất cần sự chăm sóc chu đáo từ người mẹ, vì vậy không nên xáo trộn cuộc sống của cháu mà tiếp tục giao cho bà P nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp. Đối với ông S thì làm nghề lái xe, tuy đảm bảo về mức thu nhập nhưng ông không có thời gian thường xuyên để chăm lo cho cháu T tốt hơn bà Phượng được. Mặt khác, bà P không vi phạm nghĩa vụ nuôi con kể từ sau khi ly hôn với ông S. Vì vậy, việc bà P yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T là hoàn toàn chính đáng, HĐXX chấp nhận kháng cáo của bà P, sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của ông S đối với bà P.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát thành phố Đà Nẵng đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bà P, giữ nguyên án sơ thẩm. HĐXX xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là không phù hợp với nhận định nêu trên của HĐXX nên không chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con nên ông S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 26 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Về án phí phúc thẩm: Do chấp nhận kháng cáo nên bà P không chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1, 3 Điều 26 và khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị Bích P.

2. Sửa Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận C như sau:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con của ông Đặng Minh S đối với bà Phan Thị Bích P.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đặng Minh S phải chịu án phí là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001839 ngày 05/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận C, ông S đã nộp đủ án phí.

4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phan Thị Bích P không chịu án phí. Hoàn trả cho bà Phượng số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000693 ngày 15/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận C.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ