- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QU N TH T N T THÀNH PH CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HSST Ngày: 14- 02- 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QU N TH T N T - THÀNH PH CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tăng Tài Thủ
2. Ông Nguyễn Viết Ngoan
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhàn –Thư ký Toà án Nhân dân quận
Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân qu n Th t t - thành ph Cần Thơ tham
gia phiên toà: Ông Đặng Minh Thiện - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2023/HSST ngày 18 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn Đ, sinh ngày 29/03/1992; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: khóm H, phường M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Lê Văn H, (chết); Họ tên mẹ: Trương Thị N, sinh năm: 1961 (sống); Anh, chị ruột có 02 người (lớn - sinh năm 1978, nhỏ - sinh năm 19860;. Tiền sự: Không;
Tiền án: 03 lần:
+ Lần thư nhất: Vào ngày 07/10/2019, bị Toà án nhân dân quận Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ tuyên phạt 01 năm tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2020.
+ Lần thư hai: Vào ngày 27/10/2020, bị Toà án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp, tuyên phạt 08 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/03/2021. (Căn cứ tiền án ngày 07/10/2019 để khởi tố).
+ Lần thư ba: Vào ngày 24/9/2021, bị Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, tuyên phạt 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/01/2022. (Căn cứ tiền án ngày 27/10/2020 để khởi tố).
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
gười bị hại:
- Ông Nguyễn Văn D – sinh năm 1968. Có mặt
Cư trú: Khu vực T1, P. Th, Q. Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ.
- Bà Trịnh Thị Thu T – sinh năm 1980. Vắng mặt
Cư trú: Khu vực T1, P. Th, Q. Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ.
gười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Lê Minh H – sinh năm 2009. Vắng mặt
Người giám hộ cho Huy: Bà Trƣơng Thị N - sinh năm 1961. Có mặt
Cư trú: Khóm H, P. M, Tp. Long Xuyên, tỉnh An Giang.
gười làm chứng: Bà Đặng Lệ T – sinh năm 1973. Vắng mặt
Cư trú: Khu vực T1, P. Th, Q. Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ.
NỘI DUNG V N:
Qua các tài liệu có trong h sơ vụ án và quá trình t h i, tranh lu n tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01/7/2022, do có ý định trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền mua ma tuý sử dụng nên Lê Văn Đ điều khiển xe đạp từ nhà thuộc khóm H, phường M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đi theo Quốc lộ 91 đến phường Th, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tìm tài sản để lấy trộm. Khi đến đoạn đường cầu Trại Mai thuộc khu vực T1, phường Th, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ, Đ phát hiện dưới chân cầu có tiệm sửa xe tên D (do ông Nguyễn Văn D làm chủ), tiệm đóng cửa không có người trông coi. Lúc này, Đ để xe đẹp ở ngoài rồi đi bộ vào trước cửa tiệm sửa xe, Đ quan sát thấy có một nhà kho ở phía sau tiệm sửa xe nên đi vào tìm tài sản thì phát hiện trong kho có một cái khung cửa sổ bằng sắt đã qua sử dụng. Đ lấy trộm khung cửa sổ mang ra ngoài để tìm nơi tiêu thụ. Khi đến trước cửa tiệm thì bị ông Nguyễn Văn D và vợ là bà Trịnh Thị Thu T phát hiện và báo Công an phường Th đến xử lý.
Tang vật thu giữ: 01 khung cửa sổ bằng sắt, chiều ngang khoảng 1,2 mét, chiều dài 1,6 mét, đã qua sử dụng và 01 chiếc xe đạp màu sơn trắng bạc, đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 31/BKL-HĐĐGTS ngày 11/07/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ, kết luận: 01 (một) khung sắt cửa sổ có chiều ngang khoảng 1,2 mét, chiều dài khoảng 1,6 mét đã qua sử dụng, với giá trị là: 270.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thốt Nốt đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Nguyễn Văn D 01 khung cửa sổ bằng sắt; và trả cho Lê Minh H 01 chiếc xe đạp màu sơn trắng bạc.
Tại Cáo trạng Số 18/CT-VKS ngày 17 tháng 01 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - Tp. Cần Thơ truy tố bị cáo Lê Văn Đ về tội "Trộm c p tài sản" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017;
+ Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
+ Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự, lý v t chứng:
+ Công nhận người bị hại là ông Nguyễn Văn D và bà Trịnh Thị Thu T đã nhận lại tài sản bị trộm là 01 khung cửa sổ bằng sắt, và không có yêu cầu bồi thường gì khác.
+ Cơ quan Cảnh sát điều tra đã giao trả lại Lê Minh H 01 chiếc xe đạp màu sơn trắng bạc.
Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NH N Đ NH CỦA HỘI Đ NG X T X :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thốt Nốt, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra.
Như vậy, có cơ sở xác định vào ngày 01/7/2022, lợi dụng sự sơ hở của chủ nhà, bị cáo Lê Văn Đ đã lén lút lấy trộm tài sản của ông Nguyễn Văn D là 01 khung cửa sổ bằng sắt được để trong nhà kho. Khi bị cáo vừa mang tài sản lấy trộm ra ngoài trước cửa tiệm thì bị phát hiện.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 31/BKL-HĐĐGTS ngày 11/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản, kết luận: 01 khung cửa sổ bằng sắt có chiều ngang 1,2m, chiều dài 1,6m, đã qua sử dụng, có giá trị 270.000 đồng.
Bản thân bị cáo đã từng có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích, nên lần này dù giá trị tài sản mà bị cáo lấy trộm chưa đến mức 2.000.000 đồng, nhưng đủ cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm đối với xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo do lòng tham nên đã nhiều lần trộm cắp tài sản của người khác, từng nhiều lần bị xử phạt tù về hành vi chiếm đoạt tài sản người khác, nhưng vẫn không sửa đổi. Hành vi trộm cắp tài sản lần này mà bị cáo thực hiện giữa ban ngày, ngay cạnh nhà của người dân, qua đó cho thấy bị cáo rất liều lĩnh. Thiết nghĩ cần phải có hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian tương xứng để đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Khi lượng hình xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử có xem xét để giảm một phần hình phạt.
[4] Về hình phạt bổ sung: Không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác; nên công nhận.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;
QUYẾT Đ NH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Trộm c p tài sản”.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017;
+ Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
+ Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
2. Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
+ Công nhận người bị hại là ông Nguyễn Văn D và bà Trịnh Thị Thu T đã nhận lại tài sản bị trộm là 01 khung cửa sổ bằng sắt, và không có yêu cầu bồi thường gì khác.
+ Cơ quan Cảnh sát điều tra đã giao trả lại Lê Minh H 01 chiếc xe đạp màu sơn trắng bạc.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đ ng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
TM. HỘI Đ NG X T X SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.Cần Thơ; - VKSND Q.Thốt Nốt; - Công an Q.Thốt Nốt; - Chi cục THADS Q.Thốt Nốt; - Bị cáo…; - Lưu HS . | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Kiệt |