- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hồng P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Lê Hồng P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ P TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:11/2023/HS-ST Ngày 13-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ P - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phong Phú
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thái Quang Thọ
2. Bà Trần Thị Mai Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã P, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Phan Tường Linh - Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 13 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã P, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 02/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Hồng P - sinh ngày 28 tháng 01 năm 1981 tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nơi ĐKNKTT: Khu Phú Liêm, phường Hùng Vương, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở hiện tại: không xác định được; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân B- sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị C - sinh năm 1950; anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ tư; vợ: Mai Thị T- sinh năm 1980; có 02 con: con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2014;
Tiền sự: Không
Tiền án: có 03 tiền án: + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 44 ngày 15/9/2014, Tòa án nhân dân thị xã P xử phạt Lê Hồng P 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (ngày phạm tội là ngày 19/6/2014). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/6/2014. Chấp hành xong hình phạt chính ngày 19/01/2015; nộp án phí HSST xong ngày 24/11/2014.
+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 37 ngày 30/6/2016, Tòa án nhân dân thị xã P xử phạt Lê Hồng P 30 tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy”; 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội buộc Phú phải chấp hành 45 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/11/2015. Chấp hành xong hình phạt chính ngày 11/4/2019. Nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, án phí dân sự trong hình sự 570.000 đồng xong vào tháng 10/2016. Chưa chấp hành xong các khoản bồi thường dân sự 11.417.000 đồng, kết quả xác minh: người được thi hành án không có đơn yêu cầu nên Cơ quan thi hành án dân sự thị xã P không thụ lý và hiện đã hết thời hạn yêu cầu thi hành án.
+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 33 ngày 26/6/2020, Tòa án nhân dân thị xã P xử phạt Lê Hồng P 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/02/2020. Chấp hành xong hình phạt chính ngày 06/8/2022. Chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, án phí dân sự trong hình sự 457.100 đồng; chưa bồi thường dân sự số tiền 9.142.000 đồng, kết quả xác minh hiện người được thi hành án chưa có đơn yêu cầu nên Cơ quan thi hành án dân sự thị xã P chưa thụ lý giải quyết. Tại bản án này xác định Lê Hồng P phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
Nhân thân:
+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 15 ngày 18/6/1998, Tòa án nhân dân thị xã P xử phạt Lê Hồng P 04 tháng 09 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Đã chấp hành xong hình phạt tù; nộp án phí hình sự sơ thẩm xong ngày 16/9/1998.
+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 12 ngày 19/4/1999, Tòa án nhân dân thị xã P xử phạt Lê Hồng P 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt Phú đi chấp hành án. Đã chấp hành xong hình phạt chính; nộp án phí hình sự sơ thẩm xong tháng 8/1999.
+ Tại Quyết định số 1790 ngày 19/6/2001 của Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ về việc đưa vào cơ sở giáo dục đối với Lê Hồng P, thời hạn 24 tháng tại Cơ sở giáo dục Thanh Hà. Đã chấp hành xong.
+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 13 ngày 26/4/2002, Tòa án nhân dân thị xã P xử phạt Lê Hồng P 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/01/2005. Chấp hành xong hình phạt chính ngày 03/7/2007, án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng và án phí dân sự trong hình sự 550.000 đồng, tổng là 600.000 đồng; Phú đã nộp được 200.000 đồng còn 400.000 đồng, ngày 25/10/2010, Tòa án nhân dân thị xã P đã quyết định miễn nộp số tiền trên.
+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 38 ngày 28/05/2008, Tòa án nhân dân thị xã P xử phạt Lê Hồng P 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/02/2008. Đã chấp hành xong hình phạt tù; nộp án phí hình sự sơ thẩm xong ngày 27/10/2008.
+ Tại Quyết định xử phạt hành chính số 18 ngày 22/3/2014, Công an thị xã P xử phạt Lê Hồng P 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Phú chưa nộp khoản tiền phạt này, Cơ quan ra quyết định cũng không áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với Phú.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/10/2022 đến ngày 25/10/2022 chuyển tạm giam; Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ (có mặt)
*Trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng: Bà Bùi Thị Thanh Nga
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Thọ (có mặt)
* Bị hại:
Chị Trần Thị Thùy L - sinh năm 2000. Trú tại: Khu 2, xã Đỗ Xuyên, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có đơn xin xét xử vắng mặt).
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Trung H - sinh năm 1984. Trú tại: Khu Tân Thành, phường Hùng Vương, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 15/10/2022, do cần tiền chi tiêu cá nhân, Lê Hồng P nảy sinh ý định đến Bệnh viện đa khoa thị xã P thuộc khu Lê Đồng, phường Âu Cơ, thị xã P, tỉnh Phú Thọ để trộm cắp tài sản bán lấy tiền. Khi đến tầng 2, khoa sản của Bệnh viện đa khoa thị xã P; Phú quan sát thấy cửa phòng số 201 không khóa, trong phòng có chị Trần Thị Thùy Linh, sinh năm: 2000 trú tại khu 2, xã Đỗ Xuyên, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ đang nằm trên chiếc gường kê sát cửa, mặt quay vào trong tường, bên cạnh chị Linh có 01 chiếc điện thoại Iphone X màu đen; còn trên chiếc gường bên trong sát cửa sổ có bà Bùi Thị Bích Đào, sinh năm: 1982 là mẹ chị Linh đang nằm cùng con chị Linh mới sinh. Thấy vậy, Phú lấy chiếc điện thoại của chị Linh đúc vào túi quần đang mặc rồi đi về nhà. Trên đường về, Phú tháo bỏ thẻ sim và vỏ ốp của điện thoại rồi vứt ở lề đường gần quán karaoke Khánh Huyền thuộc xã Thanh Minh, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Sau đó, Phú mang bán chiếc điện thoại trộm cắp được của chị Linh cho anh Ngô Trung Hiếu, sinh năm: 1984 trú tại khu Tân Thành, phường Hùng Vương, thị xã P, tỉnh Phú Thọ được 900.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết. Khi bán, Phú không nói cho anh Hiếu biết chiếc điện thoại là do Phú trộm cắp được mà có.
Ngày 18/10/2022, chị Linh đã trình báo sự việc đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã P, đề nghị làm rõ đối tượng trộm cắp và xử lý theo quy định pháp luật.
Đến ngày 19/10/2022, Lê Hồng P đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như trên; tự nguyện giao nộp 01 chiếc áo phông cổ tròn, cộc tay màu xanh và 01 quần dài màu đen là trang phục Phú mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Đối với anh Ngô Trung Hiếu khi mua điện thoại của Phú không biết điện thoại do Phú trộm cắp mà có. Anh Hiếu tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại Iphone X màu đen, có số imei: 353045090776277 mua của Lê Hồng P ngày 18/10/2022 cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã P.
Phục vụ công tác điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thị xã P định giá chiếc điện thoại bị trộm cắp trên. Tại bản kết luận định giá số 31 ngày 21/10/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thị xã P kết luận giá trị chiếc điện thoại Iphone X màu đen là 4.067.000 đồng.
Về xử lý vật chứng, đồ vật tạm giữ: Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã thu hồi được chiếc điện thoại bị trộm cắp và trả lại cho chị Linh là chủ sở hữu hợp pháp vào ngày 23/11/2022. Đối với chiếc áo phông cổ tròn, cộc tay màu xanh và chiếc quần dài màu đen là đồ vật của Phú được chuyển đến Cơ quan thi hành án dân sự thị xã P chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: chị Trần Thị Thùy Linh đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu Phú phải bồi thường bất kỳ khoản tiền nào khác. Anh Ngô Trung Hiếu cũng không yêu cầu Phú phải bồi thường 900.000 đồng.
Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Lê Hồng P không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội Phú đã tự giác đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về điều kiện kinh tế: Lê Hồng P không có tài sản gì có giá trị.
Ngày 24 tháng 10 năm 2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã khởi tố vụ án và khởi tố bị can Lê Hồng P về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Hồng P khai nhận như sau: Bị cáo thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng. Bị cáo trộm cắp chiếc điện thoại Iphone X màu đen của chị Trần Thị Thùy Linh. Sau đó bị cáo tháo bỏ thẻ sim và ốp điện thoại và bán chiếc điện thoại cho anh Ngô Trung Hiếu được 900.000 đồng và chi tiêu cá nhân.
Bản cáo trạng số 06/CT-VKS-TXPT ngày 09/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã P truy tố Lê Hồng P về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, trợ giúp viên pháp lý phát biểu quan điểm: xét thấy hành vi của bị cáo có tính chất giản đơn, tài sản đã được thu hồi nên đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo mức án từ 25 đến 27 tháng tù.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã P giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, công bố bản luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Hồng P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lê Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt Lê Hồng P mức án từ 33tháng đến 36 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 19/10/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
Xác nhận ngày 23/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trả lại cho chị Linh chiếc điện thoại iphone X, màu đen.
Đối với chiếc áo phông cổ tròn, cộc tay màu xanh và chiếc quần dài màu đen là đồ vật của Phú không có giá trị, bản thân Phú không yêu cầu nhận lại cần tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
.Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định: Khoảng 13 giờ, ngày 15/10/2022, tại phòng 201, tầng 2, khoa sản của Bệnh viện đa khoa thị xã P thuộc khu Lê Đồng, phường Âu Cơ, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, Lê Hồng P đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc điện thoại iphone X, màu đen trị giá 4.067.000 đồng của chị Trần Thị Thùy Linh với mục đích tư lợi cá nhân. Lê Hồng P đã có 03 tiền án, năm 2020 bị kết án về tội cố ý và bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này Phú phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm”.
Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Lê Hồng P phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 điều 173 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã P truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều khoản trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
g) Tái phạm nguy hiểm.”
.Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Hành vi bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, do vậy cần phải được xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự. Bị cáo là người có sức khỏe, hiểu biết xã hội và pháp luật nhưng không chịu lao động làm ăn lương thiện mà có hành vi trộm cắp tài sản để lấy tiền sử dụng cá nhân. Bản thân bị cáo Lê Hồng P đã có nhiều lần bị đưa ra xét xử cũng như bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội nên bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo gây ra. Song khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo chịu tình tiết tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 173 nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngày 18/10/2022 chị Linh trình báo sự việc thì đến ngày 19/10/2023 bị cáo Lê Hồng P đã đến cơ quan điều tra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của mình và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo rèn luyện, cải tạo được tội lỗi mà bị cáo đã phạm.Tuy nhiên HĐXX nhận thấy rằng, bị cáo trộm cắp tài sản có giá trị không lớn, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả lại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì đối với bị cáo. Hơn nữa bị cáo đã ý thức được hành vi trộm cắp của mình nên ra đầu thú. Từ những phân tích trên, HĐXX xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam với mức án từ 27 đến 30 tháng đối với bị cáo là phù hợp, mức án đó cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội và cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 173 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật.
. Về trách nhiệm dân sự:
Xét thấy ngày 23/11/2022 chị Trần Thị Thùy Linh đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu Phú phải bồi thường bất kỳ khoản tiền nào khác. Anh Ngô Trung Hiếu cũng không yêu cầu Phú phải bồi thường số tiền 900.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
.Về vật chứng và đồ vật, tài liệu tạm giữ:
Đối với chiếc điện thoại Iphone X màu đen Phú đã trộm cắp của chị Linh, xét thấy ngày 23/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trả lại cho chị Linh xét thấy là phù hợp
Đối với chiếc áo phông cổ tròn, cộc tay màu xanh và chiếc quần dài màu đen là đồ vật của Phú không có giá trị, bản thân Phú không yêu cầu nhận lại cần tịch thu tiêu hủy.
.Về án phí:Cần buộc bị cáo Lê Hồng P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS; khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1]. Tuyên bố bị cáo Lê Hồng P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt Lê Hồng P 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 19/10/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[2]. Về xử lý vật chứng:
Xác nhận ngày 23/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trả lại cho chị Linh chiếc điện thoại iphone X, màu đen.
Đối với chiếc áo phông cổ tròn, cộc tay màu xanh và chiếc quần dài màu đen là đồ vật của Phú không có giá trị, bản thân Phú không yêu cầu nhận lại cần tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu.
[3]. Về án phí:Buộc bị cáo Lê Hồng P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: -VKSND thị xã, tỉnh; -Công an thị xã; -Trại tạm giam; -Sở tư pháp; -Bị cáo; Bị hại; Người CQLNVLQ; -THAHS, THADS; -Lưu hồ sơ; -Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phong Phú |