vanban.org

Bản án 11/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Tuyên án 23/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Hồ Văn L phạm tội "Trộm cắp tài sản". Xử phạt bị cáo Hồ Văn L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 16/11/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hồ Văn L có trách nhiệm bồi thường cho chị Phạm Thị Y số tiền 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng) và bồi thường cho anh Quản Văn C số tiền 5.500.000đ (năm triệu năm trăm nghìn đồng). Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Văn L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Hồ Văn L phạm tội "Trộm cắp tài sản". Xử phạt bị cáo Hồ Văn L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 16/11/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/HS-ST
Ngày 23-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thạo.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Hải Tăng.

2. Bà Lê Thị Oanh.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hải – Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Sen - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Hồ Văn L, sinh năm 1992 tại tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn C và bà Lưu Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/10/2008 bị Công an huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên xử phạt hành chính 100.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, chấp hành nộp tiền phạt ngày 10/10/2008; ngày 24/8/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 30/5/2016; ngày 05/7/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 22/8/2018; ngày 25/6/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 29/7/2020 (đã được xóa án tích); bị tạm giữ từ ngày 16/11/2022 và bị tạm giam từ ngày 22/11/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt tại phiên toà.

- Bị hại:

1. Anh Quản Văn C, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Hà Nam; có mặt.

2. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

3. Chị Phạm Thị Y, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn A, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên Hồ Văn L nảy sinh ý định tìm các hộ dân bán đồ điện dân dụng trên địa bàn huyện Kim Bảng, không có người trông coi, quản lý thì đột nhập vào cửa hàng lấy trộm các cuộn dây điện đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/11/2022, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ trắng biển số 89H6-4xxx đi từ nhà ở thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên đến khu vực thôn L, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam, quan sát phát hiện cửa hàng buôn bán vật liệu xây dựng, điện dân dụng của gia đình chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1975 đang mở cửa nhưng không có ai trông coi. L dựng xe mô tô trước cửa hàng rồi đi vào bên trong gọi “Cô ơi, cô ơi, cô ơi” nhưng không có ai trả lời. Quan sát thấy trước cửa hàng có 02 cuộn dây điện màu vàng, nhãn hiệu Trần Phú chưa qua sử dụng, gồm 01 cuộn loại 2 x 2,5mm và 01 cuộn loại 2 x 1,5mm, L tiến đến dùng hai tay bê 02 cuộn dây điện ra để vào giữa khung xe mô tô rồi điều khiển xe mang đi tiêu thụ, khi đi đến địa phận xã Nhật Tân, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam thì bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ vật chứng có liên quan.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa đều xác định cũng với thủ đoạn như trên, L còn thực hiện hành vi trộm cắp vào các ngày 21/10/2022 và 13/11/2022, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 16 giờ ngày 21/10/2022, Hồ Văn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ trắng biển số 89H6-4xxx từ nhà đến khu vực thôn A, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam. Khi đi qua cửa hàng bán đồ điện dân dụng, kim khí của gia đình chị Phạm Thị Y, sinh năm 1990, quan sát thấy không có ai trông coi cửa hàng, L dựng xe mô tô trước cửa hàng rồi đi vào bên trong, thấy có nhiều cuộc dây điện được đặt ở trước cửa, L đi vào và dùng hai tay bê 02 cuộn dây điện loại 1 x 4mm màu xanh và 02 cuộn dây điện loại 1 x 6mm (01 cuộn màu xanh, 01 cuộn màu vàng) đều nhãn hiệu Trần Phú, chưa qua sử dụng để lên khung giữa xe mô tô rồi điều khiển xe quay đầu thì 02 cuộn dây điện loại 1 x 6mm rơi xuống đường trước cửa hàng, L không quay lại nhặt mà điều khiển xe đi tiếp. Khi đi đến khu vực phường Đồng Văn, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, L đã bán 02 cuộn dây điện loại 1 x 4mm cho một người đàn ông không quen biết với giá 800.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ hai: Khoảng 07 giờ ngày 13/11/2022, Hồ Văn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ trắng biển số 89H6-4xxx từ nhà đi đến khu vực thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Hà Nam, phát hiện cửa hàng của gia đình anh Quản Văn C, sinh năm 1985 không có ai trông coi, L đi vào trong cửa hàng, thấy có 04 cuộn dây điện gồm 01 cuộn loại 2 x 4mm màu vàng, 01 cuộn loại 1 x 4mm màu xanh, 01 cuộn loại 1 x 4mm màu đỏ, 01 cuộn loại 2 x 0,75mm màu vàng, tất cả đều mang nhãn hiệu Trần Phú, chưa qua sử dụng. Linh dùng hai tay bê 04 cuộn dây điện trên đặt lên khung giữa xe mô tô rồi điều khiển xe đi về. Khi đi đến khu vực phường Đồng Văn, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, L đã bán toàn bộ số dây điện trên cho một người đàn ông không quen biết với giá 2.000.000 đồng, số tiền này L chưa kịp tiêu xài thì bị thu giữ.

Vật chứng thu giữ gồm:

- Thu giữ của Hồ Văn L gồm: 01 cuộn dây điện loại 2 x 2,5mm màu vàng hãng Trần Phú dài 100m và 01 cuộn dây điện màu loại 2 x 1,5mm hãng Trần Phú dài 100m; số tiền 2.000.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ trắng biển số 89H6-4xxx.

- Tạm giữ của chị Phạm Thị Y gồm: 02 cuộn dây điện loại 1 x 6mm (01 cuộn màu xanh và 01 cuộn màu vàng) hãng Trần Phú dài 100m và 01 USB loại 2GB.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 54/KLĐGTS ngày 21/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Kim Bảng kết luận:

“- Giá trị theo giá thị trường ngày 13/11/2022 của:

+ 01 (một) cuộn dây điện loại 2 x 4mm, hãng Trần Phú dài 100m tình trạng còn mới nguyên có giá là: 2.500.000 đồng.

+ 02 (hai) cuộn dây điện loại 1 x 4mm, hãng Trần Phú dài 100m tình trạng còn mới nguyên có giá là: 2.400.000 đồng, mỗi cuộn giá 1.200.000 đồng.

+ 01 (một) cuộn dây điện loại 2 x 0,75mm, hãng Trần Phú dài 100m tình trạng còn mới nguyên có giá là: 600.000 đồng.

“- Giá trị theo giá thị trường ngày 21/10/2022 của:

+ 02 (hai) cuộn dây điện loại 1 x 6mm, hãng Trần Phú dài 100m tình trạng còn mới nguyên có giá là: 3.500.000 đồng, mỗi cuộn giá 1.750.000 đồng.

+ 02 (hai) cuộn dây điện loại 1 x 4mm, hãng Trần Phú dài 100m tình trạng còn mới nguyên có giá là: 2.400.000 đồng, mỗi cuộn giá 1.200.000 đồng.

“- Giá trị theo giá thị trường ngày 16/11/2022 của:

+ 01 (một) cuộn dây điện loại 2 x 2,5mm, hãng Trần Phú dài 100m tình trạng còn mới nguyên có giá là: 1.700.000 đồng.

+ 01 (một) cuộn dây điện loại 2 x 1,5mm, hãng Trần Phú dài 100m tình trạng còn mới nguyên có giá là: 1.050.000 đồng.

Tổng giá trị là: 14.150.000đ (mười bốn triệu một trăm năm mươi nghìn đồng)”.

Tại bản Cáo trạng số 09/CT - VKS ngày 10/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố bị cáo Hồ Văn L về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Y số tiền 2.400.000 đồng và bồi thường cho anh C số tiền 5.500.000 đồng. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước chiếc xe mô tô biển số 89H6-4xxx. Tạm giữ số tiền 2.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng để đảm bảo thi hành án về phần án phí và phần dân sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Văn L khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố và nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo nhất trí bồi thường theo yêu cầu của người bị hại là chị Y, anh C và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị hại là anh Quản Văn C trình bày: Vào buổi sáng ngày 13/11/2022, gia đình anh bị Hồ Văn L trộm cắp 04 cuộn dây điện đúng như bị cáo đã trình bày. Nay anh yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh giá trị 04 cuộn dây điện bị mất không thu hồi được là 5.500.000 đồng, ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác. Về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo anh đề nghị Hội đồng xét xử quyết định theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định đó. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời nhận tội của bị cáo Hồ Văn L tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại, biên bản thu giữ vật chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập.

Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ để xác định: Do có ý định từ trước, khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/11/2022, tại cửa hàng buôn bán vật liệu xây dựng, điện dân dụng của gia đình chị Nguyễn Thị H ở thôn L, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam, bị cáo Hồ Văn L đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, đã đột nhập vào cửa hàng trộm cắp 01 cuộn dây điện loại 2 x 2,5mm và 01 cuộn dây điện loại 2 x 1,5mm có tổng giá trị 2.750.000 đồng, trên đường L mang tài sản trộm cắp được đi tiêu thụ thì bị phát hiện, bắt giữ.

Ngoài ra, quá trình điều tra và tại phiên tòa đều xác định cũng với thủ đoạn như trên, Hồ Văn L còn thực hiện hành vi trộm cắp vào các ngày 21/10 và 13/11/2022, cụ thể như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 21/10/2022, L đã đến cửa hàng bán đồ điện dân dụng, kim khí của gia đình chị Phạm Thị Y ở thôn A, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam trộm cắp 02 cuộn dây điện loại 1 x 4mm và 02 cuộn dây điện loại 1 x 6mm có tổng giá trị 5.900.000 đồng.

Khoảng 07 giờ ngày 13/11/2022, L đã đến cửa hàng bán đồ điện dân dụng của gia đình anh Quản Văn C ở thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Hà Nam trộm cắp 04 cuộn dây điện (gồm 01 cuộn loại 2 x 4mm, 02 cuộn loại 1 x 4mm, 01 cuộn loại 2 x 0,75mm) có tổng giá trị 5.500.000 đồng.

Tổng giá trị toàn bộ các tài sản L trộm cắp 03 lần nêu trên là 14.150.000đ (mười bốn triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).

Tính chất, mức độ tội phạm bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây tâm lí hoang mang cho người dân trong việc quản lí tài sản, làm mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân rất xấu, đã 02 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 lần bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngoài ra bị cáo còn một lần bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 03 lần, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều khai báo thành khẩn nên được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Từ những phân tích nêu trên, xét thấy cần xử phạt nghiêm bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm bị cáo đã thực hiện cũng như nhân thân của bị cáo mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

- Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập, không có tài sản riêng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, do đó miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

- Người bị hại là chị Nguyễn Thị H đã nhận lại toàn bộ tài sản bị L trộm cắp gồm 01 cuộn dây điện loại 2 x 2,5mm và 01 cuộn dây điện loại 2 x 1,5mm. Sau khi nhận lại tài sản chị H không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.

- Đối với người bị hại là chị Phạm Thị Y đã nhận lại 02 cuộn dây điện loại 1 x 6mm, tuy nhiên còn 02 cuộn dây điện loại 2 x 4mm L trộm cắp của chị Y không thu hồi được, chị Y yêu cầu L phải bồi thường số tiền 2.400.000 đồng là giá trị của 02 cuộn dây điện. Người bị hại là anh Quản Văn C cũng yêu cầu L phải bồi thường số tiền 5.500.000 đồng là giá trị 04 cuộn dây điện (gồm 01 cuộn loại 2 x 4mm, 02 cuộn loại 1 x 4mm, 01 cuộn loại 2 x 0,75mm) bị L trộm cắp không thu hồi được. Tại phiên tòa, bị cáo L nhất trí bồi thường theo yêu cầu của chị Y và anh C, vì vậy cần buộc bị cáo phải bồi thường số tiền theo như yêu cầu nêu trên của chị Y và anh C.

Về xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra đã làm rõ 01 cuộn dây điện loại 2 x 2,5mm và 01 cuộn dây điện loại 2 x 1,5mm là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị H; 02 cuộn dây điện loại 1 x6mm là tài sản hợp pháp của chị Phạm Thị Y nên đã trả lại cho chị H và chị Y là phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ trắng biển số 89H6-4xxx là phương tiện bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 2.000.000 đồng đã thu giữ là tiền bị cáo có được do bán 04 cuộn dây điện trộm cắp của anh C nên cần tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng để đảm bảo thi hành án về phần án phí và phần trách nhiệm dân sự của bị cáo.

Đối với 02 cuộn dây điện loại 1 x 4mm L trộm cắp của gia đình chị Y và 04 cuộn dây điện L trộm cắp của gia đình anh C (gồm 01 cuộn loại 2 x 4mm, 02 cuộn loại 1 x 4mm, 01 cuộn loại 2 x 0,75mm), Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 USB có chứa 01 đoạn video trích xuất hình ảnh từ Camera an ninh nhà chị Y là tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự. Căn cứ các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ các điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:

1. Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Hồ Văn L phạm tội "Trộm cắp tài sản". Xử phạt bị cáo Hồ Văn L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 16/11/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hồ Văn L có trách nhiệm bồi thường cho chị Phạm Thị Y số tiền 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng) và bồi thường cho anh Quản Văn C số tiền 5.500.000đ (năm triệu năm trăm nghìn đồng).

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu vàng, đen, bạc biển số 89H6-4xxx, số khung: RLCJ5VT205Y117894; số máy: 5VT2-117894.

- Tạm giữ số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo về phần án phí và phần trách nhiệm dân sự.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng nêu trên theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/01/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Số tiền nêu trên theo Ủy nhiệm chi số 01 lập ngày 12/01/2023 của Kho bạc Nhà nước huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Hồ Văn L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 395.000đ (ba trăm chín mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo, bị hại có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong các khoản tiền, thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ