vanban.org

Bản án 11/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 16/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Hữu T phạm tội: “Giết người”.

Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Hữu T - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Hữu T phạm tội: “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/HS-ST
Ngày: 16/03/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.

Thẩm phán: Ông Lê Văn Duy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thuý Hồng.

Bà Nguyễn Thị Hồng Vân.

Ông Nguyễn Đình Phùng.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Thanh Việt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông

Nguyễn Phương Trà – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 03 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử

sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Huỳnh Hữu T, sinh năm 2004 tại Bình Định; nơi cư trú: Thôn P, Xã Q, Huyện

Z, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; con ông: I, sinh năm 1981 và bà H, sinh năm 1982; tiền án, tiền sự: Không; bắt tạm giam từ ngày 29/08/2022, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Hữu T: Ông G – Luật sư Văn phòng luật

sư H thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Định. (có mặt)

- Người bị hại: Trần Văn G (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. J, (là cha của bị hại) sinh năm: 1969 (có mặt)

2. K, (là mẹ của bị hại), sinh năm: 1969 (có mặt)

Cùng cư trú tại: Thôn I, xã J, huyện Z, tỉnh Bình Định.

3. I, (là người giám hộ cho con bị hại), sinh năm: 1999 (vắng mặt)

Cư trú tại: Thôn P, xã Q, thành phố R, tỉnh Bình Định.

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

1. NLC1, sinh năm: 1993. (vắng mặt)

2. NLC2, sinh năm: 1995. (có mặt)

Cùng cư trú tại: KP. Q, xã R, huyện Z, tỉnh Bình Định.

3. NLC3, sinh năm: 1996. (có mặt)

Cư trú tại: thôn I, xã J, huyện Z, tỉnh Bình Định.

4. NLC4, sinh năm: 1985. (có mặt)

5. NLC5, sinh năm: 1999. (vắng mặt)

6. NLC6, sinh năm:1995 (có mặt)

Cùng cư trú tại: Thôn T, xã P, huyện Z, tỉnh Bình Định.

7. NLC7, sinh năm: 1988. (vắng mặt)

Cư trú tại: Thôn P, Xã Q, Huyện Z, tỉnh Bình Định.

8. NLC8, sinh năm: 1997. (vắng mặt)

Cư trú tại: Thôn N, xã K, huyện Z, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 28/08/2022 sau khi nhậu cùng một số người họ hàng,

Huỳnh Hữu T gọi điện thoại rủ NLC1 đến nhà nghỉ X thuộc thôn X 2, xã Y2, huyện Z, tỉnh Bình Định để góp tiền mua ma tuý về sử dụng, NLC1 đồng ý. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, T cầm theo một cây kéo bằng kim loại (dài 15,7 cm, mũi kéo nhọn), 01 chai nhựa, 01 nỏ thuỷ tinh (dụng cụ để sử dụng ma tuý đá) đến nhà nghỉ X thuê phòng số 205. Khoảng 5 phút sau NLC1 đến, đi cùng NLC1 có Trần Văn G, NLC3, NLC2. Tại đây, T yêu cầu G trả số tiền 200.000 đồng mà G đã nợ T trước đó. Tuy nhiên, G không chịu trả tiền dẫn đến mâu thuẫn và thách thức lẫn nhau. G cho rằng T nhỏ tuổi hơn G mà ăn nói hỗn láo nên đã dùng tay đánh 02 cái vào mặt của T. Ngay sau đó, T dùng tay phải cầm phần cán của cái kéo đứng đối diện với G, đâm thẳng 01 cái về phía trước, trúng vào bên ngực trái của G. Sau khi đâm G, T thả cái kéo xuống nền phòng thì G tiếp tục lao vào ôm vật, xô xát với T; những người còn lại vào can ngăn. NLC1 dùng chân đá cái kéo về hướng cửa ra vào và bảo NLC3 vứt cái kéo ra ngoài phòng. NLC3 lấy cái kéo bỏ vào trong thùng nhựa đựng nước lau sàn nhà, rồi đem ra đặt ở cầu thang lên xuống ở các tầng. Lúc này, G ngã gục người xuống nền phòng nhà nghỉ. Thấy vậy, T cùng những người còn lại đỡ G nằm lên giường và gọi xe ô tô dịch vụ của anh NLC7 đưa G đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định cấp cứu. Đến 02 giờ ngày 29/8/2022 thì G tử vong. Sau khi đâm G, T về nhà bà ngoại là NLC5 kể cho bà biết việc đâm G, bà NLC5 động viên T ra đầu thú. Đến khoảng 07 giờ ngày cùng ngày, T đến Công an xã M, huyện Z, tỉnh Bình Định đầu thú.

Ngày 29/8/2022, Công an huyện Z phối hợp Trung tâm y tế huyện Z tiến hành

xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với T. Kết quả: T dương tính với loại ma túy Methamphetamine.

- Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi 308/2022/PY-TT ngày 09/9/2022

của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận đối với Trần Văn G như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vết thương vùng ngực trái thủng khoang liên sườn III – IV cạnh bờ trái xương

ức thông vào trong, thủng mặt trước thất trái thông vào buồng thất trái.

- Tràn máu toàn bộ lồng ngực.

- Đa thương tích vùng mặt, ngực, chân.

2. Nguyên nhân chết: Suy tuần hoàn cấp do vết thương thấu ngực, thủng tim.

Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSND-P2 ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát

nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Huỳnh Hữu T về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định luận tội và đề

nghị:

Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Hữu T phạm tội “Giết

người”. Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị HĐXX, xử phạt: bị cáo Huỳnh Hữu T với mức án từ 15 năm đến 17 năm tù.

Về bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo bồi thường cho gia đình nạn nhân Trần

Văn G theo quy định pháp luật. Trừ số tiền bị cáo đã bồi thường 100 triệu đồng.

Về vật chứng: Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn

giá trị sử dụng.

Người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo Huỳnh Hữu T:

Thống nhất về tội danh như Viện kiểm sát truy tố. Tuy nhiên đề nghị HĐXX

xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Bị cáo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả xảy ra; bị cáo ra đầu thú; người bị hại cũng có lỗi đánh 2 cái vào mặt bị cáo trước; bị cáo phạm tội khi mới qua 18 tuổi 10 ngày nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở đầu mức hình phạt mà vị đại diện VKS đề nghị.

Đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Yêu cầu bồi thường theo quy định pháp

luật và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không bào chữa, không tranh luận, xin lỗi gia đình bị hại và xin giảm

hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an

tỉnh Bình Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp

với các chứng cứ khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở xác định:

Do mâu thuẫn trong việc nợ nần tiền bạc, nên bị cáo Huỳnh Hữu T và bị hại

Trần Văn G đã cãi nhau và bị hại đã dùng tay đánh 02 cái vào mặt bị cáo nên bị cáo đã dùng kéo đâm mạnh một nhát vào ngực trái của bị hại dẫn đến bị hại Trần Văn G bị chết do “Suy tuần hoàn cấp do vết thương thấu ngực, thủng tim”. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt mà bị cáo đã dùng kéo, là hung khí nguy hiểm, đâm vào vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại khiến bị hại chết. Hành vi của bị cáo thể hiện bản chất côn đồ, hung hãn, do đó Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo Huỳnh Hữu T về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi nêu trên của bị cáo Huỳnh Hữu T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm

đến tính mạng, sức khỏe của người khác, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, nên cần xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội thời gian dài, tương xứng với tính chất nguy hiểm do hành vi bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng

nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo trong quá trình điều tra, truy

tố, xét xử đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng; sau khi gây án bị cáo đã ra đầu thú và bị hại cũng có một phần lỗi nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về bồi thường thiệt hại: Gia đình bị hại Trần Văn G yêu cầu bị cáo bồi thường

tiền chi phí cấp cứu là 4.760.000đ; tiền mai táng là 41.700.000đ; tiền xây mộ là 46.675.000đ, tổng cộng 3 khoản là 93.135.000 đồng. Ngoài ra yêu cầu tiền bồi thường tổn thất tinh thần là 100 lần mức lương cơ sở và tiền cấp dưỡng nuôi con bị hại là 2.000.000đ/tháng.

HĐXX xét thấy: Tại phiên tòa, bị cáo và gia đình bị hại thỏa thuận bị cáo bồi

thường toàn bộ tiền chi phí cấp cứu, mai táng và xây mộ là 93.135.000 đồng nên HĐXX ghi nhận. Chấp nhận tiền bồi thường tổn thất tinh thần là 80 lần mức lương cơ sở: 80 x 1.490.000đ = 119.200.000đ cho hàng thừa kế thứ nhất là ông J, bà K và cháu H (do chị I là vợ đã ly hôn với bị hại nhận thay), chia phần mỗi người được hưởng 39.733.000đ. Ông J đã nhận 100.000.000đ tiền bồi thường của gia đình bị cáo và đã chi phí tiền mai táng là 93.135.000 đồng, còn lại 6.865.000đ được khấu trừ vào khoản tiền bồi thường tổn thất tinh thần ông được hưởng là 39.733.000đ - 6.865.000đ = 32.868.000đ; do đó ông J được nhận số tiền bồi thường tổn thất tinh thần là 32.868.000đ.

Bị cáo Huỳnh Hữu T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu H, sinh ngày

30/7/2015 là con của bị hại Trần Văn G và chị I mỗi tháng 1.500.000đ, kể từ ngày 29/8/2022 cho đến khi cháu H tròn 18 tuổi.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không có giá trị sử dụng:

- Chất màu nâu trên nền phòng 205 (vị trí 2 theo biên bản khám nghiệm hiện

trường).

- Chất màu nâu trên nền phòng 205 (vị trí 3 theo biên bản khám nghiệm hiện

trường).

- Chất màu nâu trên tường phía bắc phòng 205.

- Chất màu nâu trên ra bọc nệm phòng 205.

- 01 (một) đôi dép xốp xỏ ngón màu trắng (kết quả điều tra xác định của Huỳnh

Hữu T).

- 01 (một) đôi dép quai ngang màu đen (kết quả điều tra xác định là của nạn

nhân Trần Văn G).

- 01 (một) cây kéo kim loại thu tại vị trí 4 (có đặc điểm dài 15,7cm mũi nhọn,

trong đó phần mũi gồm hai miếng kim loại sắc nhọn dài 13cm, một bên khớp với nhau vào phía trong vào nhau cùng xoay quanh một trục cố định, bản rộng nhất của mỗi mũi kéo 1cm, phần dày nhất của mỗi miếng kim loại mũi kéo 0,2cm, phần tay cầm dài 2,7cm gồm hai lỗ tròn có cùng đường kính trong 2cm; mặt trong của hai lưỡi kéo khi mở kéo cách trục cố định 1,2cm thấy có dính chất màu nâu rải rác.

(Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường)

- Mẫu máu của nạn nhân Trần Văn G.

- 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen, trước ngực có dòng chữ “KENZO”, cách

cổ bên trái về phía dưới 20cm và cách lai áo bên trái 14cm có vết rách vải kích thước (1 x 0,2)cm, bề mặt dính chất màu nâu, vai áo bên phải có vết rách vải dài 15cm.

(Theo Biên bản khám nghiệm tử thi).

Về án phí: Bị cáo Huỳnh Hữu T là hộ cận nghèo nên được miễn án phí theo

quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Hữu T phạm tội: “Giết người”.

Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của

Bộ luật Hình sự,

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Hữu T 15 (mười lăm) năm tù về tội “Giết người”. Thời

hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 29/08/2022.

2. Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 585; 586, 590 BLDS.

Buộc bị cáo Huỳnh Hữu T phải bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho ông J là

32.868.000đ; bà K là 39.733.000đ; cháu H là 39.733.000đ (do chị I là mẹ nhận thay).

Bị cáo Huỳnh Hữu T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu H, sinh ngày

30/7/2015 là con của bị hại Trần Văn G và chị I mỗi tháng 1.500.000đ, kể từ ngày 29/8/2022 cho đến khi cháu H tròn 18 tuổi, do chị I là mẹ nhận tiền.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ

luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

- Chất màu nâu trên nền phòng 205 (vị trí 2 theo biên bản khám nghiệm hiện

trường).

- Chất màu nâu trên nền phòng 205 (vị trí 3 theo biên bản khám nghiệm hiện

trường).

- Chất màu nâu trên tường phía bắc phòng 205.

- Chất màu nâu trên ra bọc nệm phòng 205.

- 01 (một) đôi dép xốp xỏ ngón màu trắng (kết quả điều tra xác định của Huỳnh

Hữu T).

- 01 (một) đôi dép quai ngang màu đen (kết quả điều tra xác định là của nạn

nhân Trần Văn G).

- 01 (một) cây kéo kim loại thu tại vị trí 4 (có đặc điểm dài 15,7cm mũi nhọn,

trong đó phần mũi gồm hai miếng kim loại sắc nhọn dài 13cm, một bên khớp với nhau vào phía trong vào nhau cùng xoay quanh một trục cố định, bản rộng nhất của mỗi mũi kéo 1cm, phần dày nhất của mỗi miếng kim loại mũi kéo 0,2cm, phần tay cầm dài 2,7cm gồm hai lỗ tròn có cùng đường kính trong 2cm; mặt trong của hai lưỡi kéo khi mở kéo cách trục cố định 1,2cm thấy có dính chất màu nâu rải rác).

- Mẫu máu của nạn nhân Trần Văn G.

(Toàn bộ những vật chứng trên được đựng trong 01 (một) phong bì dán kín, tại phần mép có hình dấu của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng).

- 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen, trước ngực có dòng chữ “KENZO”, cách

cổ bên trái về phía dưới 20cm và cách lai áo bên trái 14cm có vết rách vải kích thước (1 x 0,2)cm, bề mặt dính chất màu nâu, vai áo bên phải có vết rách vải dài 15cm.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/02/2023 giữa Cơ quan CSĐT

công an tỉnh Bình Định và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định).

3. Về án phí: Bị cáo Huỳnh Hữu T không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án

phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15

ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nhận:

Cỡ chữ