- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo T N K phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HS-ST Ngày 21/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thùy Dương
2. Ông Nguyễn Thanh Tịnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Diệu Thu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Trần Vi Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại Phòng xử hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công Khi vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
T N K; sinh ngày 28/7/1997; tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: xx Lạc Long Quân, Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở: xx Lâm Hoành, phường xx, quận xx, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông N V Đ và bà T T H; bị cáo có vợ tên là B T T N, có một con sinh năm 2016; tiền án: Ngày 22/01/2015, Tòa án nhân dân Quận 6 xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 05/2015/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/11/2015. Thi hành án phí ngày 09/3/2020. Ngày 09/5/2018, Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 66/2018/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/5/2020. Chưa đóng án phí và nộp tiền sung quỹ nhà nước; tiền sự: Ngày 19/5/2020, Tòa án nhân dân quận Bình Tân áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Chấp hành xong ngày 19/5/2022. Nhân thân: Ngày 09/8/2012 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, khoản 2, Điều 136 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (Bản án số 237/2012/HSST), không tính án tích do khi phạm tội dưới 16 tuổi; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2022 tại Nhà tạm giữ Công an Quận 11; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông N H Kh, sinh năm 2001; nơi cư trú: xx Thạch Lam, phường xx, quận xx, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 50 ngày 20/8/2022, đối tượng T N K điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 52P2-2521 lưu thông trên đường Ông Ích Khiêm, Phường 5, Quận 11 thì phát hiện ông N H Kh đang dừng xe mô tô, sử dụng điện thoại di động hiệu Xiaomi trước nhà số x Ông Ích Khiêm, Phường x, Quận x. Đối tượng K nảy sinh ý định chiếm đoạt nên điều khiển xe mô tô áp sát bên trái ông Kh rồi dùng tay phải cướp giật điện thoại trên và tăng ga bỏ chạy. Ngay lúc đó, ông Kh liền truy đuổi, dùng hai tay nắm phần baga sau đuôi xe của đối tượng K và tri hô. Đối tượng K tiếp tục bỏ chạy kéo lê ông Kh một đoạn thì ông Kh buông tay. Lúc này, xe mô tô của đối tượng K va chạm với xe mô tô khác làm đối tượng K té ngã. Ông Kh cùng quần chúng nhân dân bắt giữ đối tượng K giao Công an Phường 5, Quận 11 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Kết luận định giá tài sản số 82/KL-HĐĐGTS ngày 29/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 11 kết luận: Một điện thoại điện thoại di động hiệu Xiaomi Mi8 Life, tại thời điểm ngày 20/8/2022 trị giá 1.600.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, bị can K thừa nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng thu giữ:
- Một xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 52P2-2521 do bà L T H Tr đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh được biết bà Tr đã đi khỏi nơi cư trú. Bị can K khai mua xe trên từ đối tượng tên Thanh (không rõ lai lịch) khoảng tháng 4/2022. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu.
- Một điện thoại di động hiệu Xiaomi, Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại bị hại.
- Một đĩa CD ghi lại hình ảnh vụ việc.
- Hai điện thoại di động hiệu Vivo là tài sản riêng của bị can K.
- Một áo thun màu đen, một quần jean màu đen xám, một nón bảo hiểm màu đen của bị can sử dụng khi phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại N H Kh đã nhận lại tài sản, không có thương tích gì, không yêu cầu gì khác.
Tại Bản cáo trạng số 11/CT-VKSQ11 ngày 17/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị can T N K tội danh “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo T N K có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Bị hại là ông N H Kh vắng mặt tại phiên tòa. Phía bị hại đã cung cấp lời khai, đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị xử phạt bị cáo T N K từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù; đề nghị xử lý vật chứng như sau:
- Lưu vào hồ sơ vụ án một đĩa CD ghi lại hình ảnh vụ việc.
- Tiếp tục đăng báo truy tìm chủ sở hữu, trường hợp không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào công quỹ một xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 52P2-2521.
- Tịch thu, tiêu hủy một áo thun màu đen, một quần jean màu đen xám, một nón bảo hiểm màu đen.
- Trả lại cho bị can K hai điện thoại di động hiệu Vivo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào lúc 23 giờ 50 phút ngày 20/8/2022, tại trước nhà số x Ông Ích Khiêm, Phường x, Quận x, bị cáo T N K đã có hành vi điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave áp sát ông N H Kh rồi nhanh chóng, bất ngờ dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại di động hiệu Xiaomi màu đen của ông Kh, sau đó tăng ga nhanh chóng tẩu thoát.
Tài sản bị chiếm đoạt là một điện thoại điện thoại di động hiệu Xiaomi Mi8 Life màu đen, tại thời điểm ngày 20/8/2022 trị giá 1.600.000 đồng.
Bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, biết rõ hành vi của mình là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Khi phạm tội, bị cáo T N K sử dụng xe mô tô làm phương tiện thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nên thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tái phạm nguy hiểm là dấu hiệu định khung hình phạt nên không được coi là tình tiết tăng nặng.
Bị cáo có nhân thân xấu, có hai tiền án và có một tiền sự. Đối với bàn án năm 2012 đã áp dụng đối với bị cáo thì không được tính là tiền án do khi phạm tội, bị cáo dưới 16 tuổi.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Về xử lý vật chứng:
- Đối với vật chứng là một điện thoại di động hiệu Xiaomi của bị hại N H Kh bị bị cáo chiếm đoạt, Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại bị hại. Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 xử lý vật chứng đúng quy định nên không giải quyết lại.
- Đối với vật chứng là một đĩa CD ghi lại hình ảnh vụ việc do Công an Phường 5, Quận 11 lập biên bản trích xuất từ camera an ninh và do Cơ quan Cảnh sát điều tra ghi nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 xử lý lưu vào hồ sơ vụ án là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với vật chứng là một áo thun màu đen, một quần jean màu đen xám, một nón bảo hiểm màu đen của bị cáo sử dụng khi phạm tội. Bị cáo không có nhu cầu nhận lại tài sản; tài sản không còn giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với vật chứng là một xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 52P2-2521 do bà L T H Tr đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh được biết bà Tr đã đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo K khai mua xe trên từ đối tượng tên Thanh (không rõ lai lịch) khoảng tháng 4/2022. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay vẫn chưa có ai đến liên hệ làm việc. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe nêu trên chưa xác định được chủ sở hữu; bị cáo sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên giải quyết giao cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015; trường hợp không xác định được chủ sở hữu của chiếc xe nêu trên trong thời hạn luật định thì giải quyết tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với vật chứng là hai chiếc điện thoại di động hiệu Vivo là tài sản riêng của bị cáo K, không sử dụng vào việc phạm tội. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại N H Kh đã nhận lại tài sản, không có thương tích gì, không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo T N K, điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo T N K;
Tuyên bố bị cáo T N K phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo T N K 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/8/2022.
Căn cứ khoản 2 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Lưu vào hồ sơ vụ án một đĩa CD ghi lại hình ảnh vụ việc.
Căn cứ Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Giao cho Chi cục thi hành án dân sự Quận 11 thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận đối với một xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 52P2-2521. Quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 84/LNK-ĐTTH ngày 22/8/2022 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 11).
Tịch thu, tiêu hủy một áo thun màu đen, một quần jean màu đen xám, một nón bảo hiểm màu đen (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 84/LNK-ĐTTH ngày 22/8/2022 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 11).
Trả lại cho bị cáo T N K hai chiếc điện thoại di động hiệu Vivo (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 84/LNK-ĐTTH ngày 22/8/2022 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 11).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Bị cáo T N K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND - VKSND TPHCM; - Sở Tư pháp TPHCM; - PC 27 - CA TPHCM; - VKSND Q.11; - Công an Q.11; - Chi cục THADS Q.11; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Cơ Dũng |