- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân H và đồng phạm - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HS-ST Ngày: 23-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Hiền
Ông Trần Xuân TH1
- Thư ký phiên toà: Bà Mạc An Chi - Thư ký Toà án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Xuân H sinh năm 1995 tại Hà Nội; ĐKHKTT: Số xx ngõ x Bùi Xương Tr, phường KĐ, quận TX, thành phố HN; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Xuân H2 và bà Nguyễn Thị Bích Kh; tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 383 do Công an quận Tây Hồ lập ngày 01/12/2022 và lý lịch do địa phương cung cấp, bị cáo không có tiền án, tiền sự; nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/11/2022 đến ngày 02/12/2022, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
2. Nguyễn Xuân H1sinh năm 2003 tại Hà Nội; ĐKHKTT: Số xx ngõ x Bùi Xương Tr, phường KĐ, quận TX, thành phố HN; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Xuân H2 và bà Nguyễn Thị Bích Kh; tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 384 do Công an quận Tây Hồ lập ngày 01/12/2022 và lý lịch do địa phương cung cấp, bị cáo không có tiền án, tiền sự; nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự; Ngày 20/10/2022, bị cáo bị Cơ quan CSĐT - Công an quận Bắc Từ Liêm khởi tố về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo bị bắt từ ngày 23/11/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội (có mặt).
- Bị hại: Bà Lê Hoài Đ, sinh năm 1977; HKTT: Số xx ngõ xxx đường TK, phường B, quận TH, thành phố HN (vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Bích Kh, sinh năm 1973; HKTT: Số xx ngõ x Bùi Xương Tr, phường KĐ, quận TX, thành phố HN (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 11 năm 2022, do cần tiền nên Nguyễn Xuân H đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của nhà bạn gái là Nguyễn Hương G (sinh năm 1994; HKTT: Số xx ngõ xxx đường TK, phường B, quận TH, thành phố HN). H đã lấy chìa khóa cửa nhà chị G và đánh một chìa khóa riêng. Ngày 21/11/2022, chị G nói cho H biết mẹ chị G có nhiều tiền lẻ. Trưa ngày 22/11/2022, H rủ em trai là Nguyễn Xuân H1đến nhà chị G để trộm cắp tài sản, H1đồng ý. H và H1đã tháo biển số xe của máy nhãn hiệu Honda Wave, màu cam, BKS 29G2-058.34 cất vào trong cốp. Sau đó, H điều khiển xe máy trên chở H1đến nhà chị G. Trên đường đi, H đưa cho H1một sim điện thoại (không nhớ số) và bảo lắp vào máy điện thoại của H1để gọi cho chị G nói có người đang cấp cứu trong Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn, cần chị G đến gấp. Sau khi xác định chị G đã ra khỏi nhà, H tiếp tục chở H1đến đầu ngõ 32 đường Lạc Long Quân, phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội và để xe máy trên vỉa hè ngoài đầu ngõ (nhà chị G có hai đường đi vào là từ ngõ 580 Thuỵ Khuê và ngõ 32 Lạc Long Quân). H và H1đi đến cổng nhà chị G số 26 ngõ 580 Thuỵ Khuê, H1đứng ở ngoài chờ. H đi vào, lấy chìa khoá mở cửa vào nhà chị G. Tại phòng ngủ, tầng 2, H phát hiện một túi nilon màu đen để dưới gầm bàn trang điểm, bên trong có nhiều cọc tiền nhiều mệnh giá khác nhau từ 1.000 đồng đến 5.000 đồng, H đã lấy ba cọc tiền mệnh giá 5.000 đồng và hai chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng có gắn đá, đựng trong 1 chiếc hộp để trên mặt bàn trang điểm. H giấu hai chiếc nhẫn vào túi áo khoác bên phải, giấu ba cọc tiền vào bên trong áo khoác phía trước bụng và bỏ chạy ra hướng đầu ngõ 32 Lạc Long Quân.
Ra đến nơi, H bảo H1đi sang bên đường, H1điều khiển xe đến ngã ba Lạc Long Quân - Thụy Khuê thì H đi bộ ra và lên xe H1chở về. Khi đi đến đầu ngõ số 3 đường Nhân Hoà, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội, H đã vứt chiếc chìa khoá nhà chị G tại một gốc cây. H1đã bẻ chiếc sim điện thoại và vứt bỏ. H đưa cho H11.000.000 đồng để H1đi đổi lấy tiền chẵn tại siêu thị mini 10k gần đầu ngõ 3 đường Nhân Hoà, phường Nhân Chính. Sau khi đổi được tiền, H nói với H1vứt bỏ quần áo để tránh bị phát hiện. Khi tới ngõ 129 Nguyễn Xiển, phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội, H vứt bỏ một chiếc quần dài màu đen ở phía sau một đống gạch, H1vứt bỏ một áo khoác màu xanh da trời vào trong vườn nhà dân rồi cả hai đi về nhà. Tại nhà, H mang tiền cùng hai chiếc nhẫn lên phòng ngủ tầng 2, H giấu hai chiếc nhẫn trong hộp đựng tai nghe rồi cất trên nóc tủ quần áo.
Khoảng 16 giờ cùng ngày, H và H1đi đến cửa hàng cầm đồ tại số 7 và số 88 đường Bùi Xương Trạch, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội để đổi tiền. Tại mỗi cửa hàng, H đổi được 500.000 đồng, rồi chở H1về nhà. Sau đó, H tiếp tục đi đến cổng trường Đại học Y đổi cho một người phụ nữ bán hàng rong 500.000 đồng và đổi cho khách của người bán hàng rong 500.000 đồng. Sau khi đổi được 3.000.000 đồng tiền lẻ trộm cắp được ra tiền chẵn, H lấy thêm 7.000.000 đồng mệnh giá 5.000 đồng, tổng cộng là 10.000.000 đồng để trả nợ cho một người đàn ông tên Khánh (không xác định được nhân thân và địa chỉ). Trong khi H đi đổi tiền để trả nợ, H1ở nhà đã lấy chiếc áo khoác màu đen của H đem đi vứt tại một bãi rác trong ngõ 207 Bùi Xương Trạch, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Sau khi trả nợ, H đã xoá số điện thoại của Khánh và về nhà đón H1đi làm bảo vệ tại Khu đô thị Tây Hồ Tây. H1đã giấu 01 chiếc điện thoại Iphone 11 của H ở dưới bàn tại bốt vị trí trực của H1và 01 chiếc điện thoại Iphone 8 của H1dùng để gọi điện thoại cho chị G ở gốc cây gần cổng chính ra vào khu H1làm việc.
Ngày 22/11/2022, Bà Lê Hoài Đ (mẹ chị G) đã đến trình báo cơ quan Công an trình báo về việc mất trộm tài sản. Khoảng 02 giờ ngày 23/11/2022, H và H1đến Công an phường Bưởi, quận Tây Hồ đầu thú.
- Thu giữ của anh Nguyễn Xuân H:
+ 01 cọc tiền mệnh giá 5.000 đồng, mỗi cọc có 10 tập, mỗi tập có 100 tờ, tổng số tiền của 01 cọc tiền là 5.000.000 đồng.
+ 01 chiếc quần dài màu đen, hai bên ống quần có 03 kẻ sọc màu cam.
- Thu giữ của anh Nguyễn Xuân H1:
+ 01 xe mô tô Honda Wave màu cam, BKS 29G2-058.34, số khung RLHJA3920NY292605, số máy: JA39E2788400.
+ 01 điện thoại Iphone 11 màu xanh đen (đã qua sử dụng)
+ 01 điện thoại Iphone 8 màu hồng (đã qua sử dụng).
+ 01 áo khoác màu xanh da trời
+ 01 áo khoác màu đen, có mũ
+ 01 quần dài màu đen, sọc trắng hai bên, có ghi chữ Addidas.
+ 01 mũ bảo hiểm màu đen, giữa có vạch màu trắng
- Thu giữ của chị Triệu Thị Kim Q (Quản lý siêu thị mini 10k):
+ 82 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng
- Thu giữ của chị Nguyễn Thị Bích Kh (mẹ của H và H1):
+ 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng có gắn nhiều đá nhỏ chìm trên mặt nhẫn, chiếc nhẫn có đường kính khoảng 1,8 cm.
+ 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng có gắn nhiều đá, viên đá nhỏ, chìm trên mặt nhẫn và một viên đá kích thước khoảng 0,5x0,5 cm gắn nổi ở giữa mặt nhẫn, chiếc nhẫn có đường kính khoảng 1,7cm.
Kết quả trưng cầu giám định 02 chiếc nhẫn tại Viện ngọc học và trang sức sức DOJILAB xác định: 02 chiếc nhẫn đều là vàng trắng 10k, có tổng trọng lượng 3,27gr.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 273/KL-HĐĐG ngày 28/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Tây Hồ kết luận: Tổng giá trị của cả 02 chiếc nhẫn là 2.206.000 đồng.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS 29G2-058.34, số khung RLHJA3920NY292605, số máy: JA39E2788400: Chủ xe là Nguyễn Xuân H1. Kết luận giám định số khung, số máy đều là số nguyên thủy. Tra cứ xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.
Cơ quan điều tra đã xác định chủ sở hữu số tài sản bị trộm cắp trên là bà Lê Hoài Đ là mẹ của chị G. Ngày 13/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 09/QĐ - ĐTV bằng hình thức trao trả lại:
- Trả lại cho bà Lê Hoài Đ: 01 (một) cọc tiền mệnh giá 5.000 đồng và 02 (hai) chiếc nhẫn vàng trắng 10k. Bà Đ nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
- Trả lại cho chị Triệu Thị Kim Q: 82 (tám mươi hai) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng. Chị Quy nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
Quá trình điều tra, bà Nguyễn Thị Bích Kh (mẹ của H và H1) đã tự nguyện khắc phục hậu quả trả lại cho bà Lê Hoài Đ số tiền 10.000.000 đồng. Bà Đ đã có đơn đề nghị xin giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho H và H1.
Bản Cáo trạng số 08/CT-VKSTH ngày 01 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân H và Nguyễn Xuân H1về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Bà Khuyến trình bầy: Số tiền bà trả cho bị hại là của bà, bà cho các bị cáo nên không yêu cầu các bị cáo trả lại cho bà.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và giữ nguyên nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Xuân H.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối vơi bị cáo Nguyễn Xuân H1.
Áp dụng Điều 47, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đối với cả hai bị cáo
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho H1án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H1từ 09 đến 12 tháng tù.
-Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị:
+ Trả lại bị cáo Nguyễn Xuân H 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh đen (đã qua sử dụng), không kiểm tra được số Imei; 01 quần dài màu đen, hai bên ống quần có 03 kẻ sọc màu cam và 01 áo khoác màu đen có mũ.
+ Trả lại bị cáo Nguyễn Xuân H101 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu cam, BKS 29G2-058.34, số khung RLHJA3920NY292605, số máy: JA39E2788400; 01 áo khoác màu xanh da trời, 01 quần dài màu đen sọc trắng hai bên ghi chữ Adidas và 01 mũ bảo hiểm màu đen giữa có vạch màu trắng.
+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 8 màu hồng (đã qua sử dụng) không kiểm tra được số Imei của Nguyễn Xuân H1.
- Về án phí: Các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận, nói lời sau cùng: Các bị cáo biết mình sai, vi phạm pháp luật và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận Tây Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến, cũng không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Xét lời khai của các bị cáo Nguyễn Xuân H và Nguyễn Xuân H1tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, biên bản dựng lại hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ đã truy tố.
Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 22/11/2022, tại nhà số 26 ngõ ngõ 580 đường Thụy Khuê, phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, Nguyễn Xuân H và Nguyễn Xuân H1đã có hành vi trộm cắp 15.000.000 đồng tiền mặt (gồm 03 cọc, mỗi cọc có 10 tập) tiền mệnh giá 5.000 đồng và 02 chiếc nhẫn vàng trắng 10k, trị giá 2.206.000 đồng của bà Lê Hoài Đ. Tổng số tài sản H và H1trộm cắp là 17.206.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố các bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do lười lao động lại muốn H1thành quả lao động của người khác nên đã cố ý xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được Bộ luật Hình sự bảo vệ và gây mất trật tự, an toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân chưa có tiền án tiền sự; đã ra đầu thú; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo (riêng bị cáo H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng). Do đó, bị cáo H được H1tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H1được H1tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về vai trò phạm tội của các bị cáo và hình phạt: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo H giữ vai trò là người xúi giục, bị cáo H1giữ vai trò là người giúp sức. Xét hành vi, tính chất và mức độ phạm tội của các bị cáo đã gây ra; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng một hình phạt tương xứng trong khung hình phạt, nhưng bị cáo H phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo H1.
Bị cáo Nguyễn Xuân H1trước khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này, bị cáo đã bị Công an quận Bắc Từ Liêm khởi tố về hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Điều đó chứng tỏ bị cáo H1coi thường pháp luật, không ăn năn hối cải và không thể tự cải tạo được, nên phải cách ly bị cáo H1ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, dăn đe và phòng ngừa tội phạm.
Bị cáo Nguyễn Xuân H có nhân thân tốt; Có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Có nơi cư trú rõ ràng. Đối chiếu với quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP Tòa án nhân dân tối cao ngày 15/5/2018 quy định: Điều kiện cho người bị kết án phạt tù được H1án treo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo H có đủ điều kiện cho cải tạo ngoài xã hội theo hướng dẫn tại Nghị quyết nêu trên. Do đó, không nhất thiết phải cách ly bị cáo H ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo H1án treo theo Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 là thể hiện chính sách pháp luật hình sự nhân đạo của Nhà nước, giúp họ yên tâm cải tạo, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã xác định 01 (một) cọc tiền mệnh giá 5.000 đồng (01 cọc có 10 tập, mỗi tập có 100 tờ, tổng số tiền của 01 cọc tiền là 5.000.000 đồng) và 02 (hai) chiếc nhẫn vàng trắng 10k đều là tài sản hợp pháp của bà Lê Hoài Đ. Ngày 13/01/2023, Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng số 09/QĐ-ĐTTV và trao trả 01 cọc tiền và 02 chiếc nhẫn trên cho bà Đ. Bà Đ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Đối với 82 (tám mưới hai) tờ tiền mệnh giá là 5.000 đồng: Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng số 09/QĐ-ĐTTV và trao trả 82 tờ tiền trên cho bà Triệu Thị Kim Quy. Bà Quy đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Bà Nguyễn Thị Bích Kh là mẹ của hai bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả trả lại cho bà Lê Hoài Đ số tiền 10.000.000 đồng và tự nguyện cho cả hai bị cáo và không yêu cầu hai bị cáo phải trả lại, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
- Trả lại bị cáo Nguyễn Xuân H 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh đen (đã qua sử dụng), không kiểm tra được số Imei; 01 quần dài màu đen, hai bên ống quần có 03 kẻ sọc màu cam và 01 áo khoác màu đen có mũ.
- Trả lại bị cáo Nguyễn Xuân H101 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu cam, BKS 29G2-058.34, số khung RLHJA3920NY292605, số máy: JA39E2788400; 01 áo khoác màu xanh da trời, 01 quần dài màu đen sọc trắng hai bên ghi chữ Adidas và 01 mũ bảo hiểm màu đen giữa có vạch màu trắng.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 8 màu hồng (đã qua sử dụng) không kiểm tra được số Imei của Nguyễn Xuân H1.
Về án phí: Các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Nguyễn Xuân H 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Xuân H cho UBND phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được H1án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Nguyễn Xuân H109 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Trả lại bị cáo Nguyễn Xuân H 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh đen (đã qua sử dụng), không kiểm tra được số Imei; 01 quần dài màu đen, hai bên ống quần có 03 kẻ sọc màu cam và 01 áo khoác màu đen có mũ.
- Trả lại bị cáo Nguyễn Xuân H101 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu cam, BKS 29G2-058.34, số khung RLHJA3920NY292605, số máy: JA39E2788400; 01 áo khoác màu xanh da trời, 01 quần dài màu đen sọc trắng hai bên ghi chữ Adidas và 01 mũ bảo hiểm màu đen giữa có vạch màu trắng.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 8 màu hồng (đã qua sử dụng) không kiểm tra được số Imei của Nguyễn Xuân H1.
(Vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Tây Hồ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/02/2023”
3.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Xuân H và Nguyễn Xuân H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ điều 331, điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự :
Án xử công khai sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Tây Hồ; - CCTHADS quận Tây Hồ; - CAQ Tây Hồ; - Thi hành án Hình sự; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS/VPTA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Giang |