vanban.org

Bản án 11/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 10/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt; Đỗ Đức T; 10 tháng ( Mười tháng) tù về tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao Đỗ Đức T cho Uỷ ban nhân dân xã T, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thành hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt; Đỗ Đức T; 10 tháng ( Mười tháng) tù về tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VIỆT YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/HS-ST
Ngày 10/01/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN - TỈNH BẮC GIANG

T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Vinh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Kim

Ông Đỗ Văn Ngôn

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Tuyên- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên tham gia phiên tòa:

Ông Lê Đình Luyện Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện Việt Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 264/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 267/2022/QĐXXST-HS ngày 28/12/2022 đối với bị cáo: Đỗ Đức T, sinh năm 1976. Giới tính: Nam. Tên gọi khác; không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Nơi cư trú; Thôn B, xã T, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Đức Sự, sinh năm 1952 (đã chết). Con bà; Nguyễn Thị V; Vợ: Chu Thị H ( đã chết),bị cáo có 04 lớn sinh năm 1997 nhỏ sinh năm 2008; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là ccon đầu. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ 03/10/2022 đến ngày 12/10/2022, hiện tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Dương Văn M sinh năm 1971.

Địa chỉ: Thôn H, xã T huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;

- Ông Nguyễn Văn T sinh năm 1966. Vắng mặt

- Bà Nguyễn Thị T sinh năm 1968. Vắng mặt

Đều địa chỉ; Thôn B, xã Đ, huyện Thuận T, tỉnh Bắc Ninh.

- Anh Đỗ Đức Th sinh năm 1978. Có mặt

Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Dương Văn M- sinh năm 1971, trú tại thôn H, xã T, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang có thỏa thuận hợp đồng với anh Nguyễn Văn T- sinh năm 1966, trú tại thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận T, tỉnh Bắc Ninh đem máy gặt lúa nhãn hiệu Kobota DC- 70 Plus đến nhận khoán cắt lúa cho các hộ gia đình ở cánh đồng thôn B, xã T, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Đỗ Đức T- sinh năm 1976, trú tại thôn B, xã T, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang có ruộng ở cánh đồng thôn B nên khoảng 14 giờ ngày 02/10/2022, T đi ra cánh đồng thôn B, xã T, huyện Việt Yên để thuê máy gặt lúa của M. Tại đây, T gặp M để đặt vấn đề nhờ M gặt lúa cho ruộng nhà T trước. Tuy nhiên, do M nhận khoán nhiều ruộng khác nên bảo T phải chờ đến lượt. Thấy M nói vậy, T đến nhà ông Đỗ Văn Chiều- sinh năm 1968, trú tại thôn Hà Thượng, xã T, huyện Việt Yên ngồi uống nước đợi đến lượt cắt lúa. Khoảng 16 giờ ngày 02/10/2022, T quay lại cánh đồng thôn B, xã T thấy ruộng lúa của nhà mình vẫn chưa được gặt nên đã bực tức, chửi M. Trong lúc cãi chửi nhau, T có nói đe dọa M “Chiếc máy gặt này không qua được 11 giờ đêm nay” rồi bỏ về nhà ông Chiều ăn cơm, uống rượu tại đó. Đến khoảng 22 giờ ngày 02/10/2022, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Salut, màu sơn xanh, biển kiểm soát 98M4 - 0409 để đi về nhà. Khi đi đến gần nhà M, T nhìn thấy máy gặt lúa của anh Thiện để ở cổng (anh Thiện giao máy gặt cho M trông coi giúp). Do bực tức việc cãi nhau với M từ chiều nên T đã nảy sinh ý định đốt bộ phận máy của máy gặt cho đỡ bực tức. Quan sát thấy không có ai, T lấy ba bao tải dứa màu trắng để trên xe mô tô đem đến gần đuôi chiếc máy gặt rồi T bật lửa đốt cháy các bao tải dứa và vứt vào khu vực đuôi máy gặt thấy máy gặt bùng cháy, rồi T lên xe mô tô đi về nhà.

Khoảng 05 giờ ngày 03/10/2022, M phát hiện máy gặt bị cháy hư hỏng nên đã báo tin cho vợ chồng anh Nguyễn Văn T để làm đơn trình báo cơ quan Công an. Cùng ngày 03/10/2022, T đến Công an xã T đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình, đồng thời giao nộp: 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Salut, biển kiểm soát 98M4- 0409 và đăng ký của xe mô tô.

Ngày 03/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên đã tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định nơi xảy ra vụ việc T cố ý làm hư hỏng tài sản của anh Thiện. Quá trình khám nghiệm, Cơ quan điều tra thu giữ: 01 cốc lọc dầu; 01 cốc lọc nước và hệ thống dây điện bị than hóa; một số sản phẩm cháy để giám định nguyên nhân cháy, điểm xuất phát cháy và chất cháy.

Tại bản kết luận giám định số 6870/KL-KTHS ngày 21 tháng 10 năm 2022 của Viện khoa học hình sự- Bộ Công an kết luận: Trên các đoạn dây dẫn điện không tìm thấy vết chập mạch điện; Trên mẫu sản phẩm cháy tìm thấy vết của dầu khoáng; Không đủ điều kiện để xác định điểm xuất phát cháy và nguyên nhân cháy vụ cháy nói trên.

Tại kết luận định giá tài sản số 144/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Việt Yên kết luận: Tổng T lọc nhiên liệu của máy gặt lúa nhãn hiệu Kubota DC- 70 Plus có giá trị 800.000 đồng; Tổng T bộ lọc tách của máy gặt lúa nhãn hiệu Kubota DC- 70 Plus có giá trị 990.000 đồng; Lọc trong thùng nhiên liệu của máy gặt lúa nhãn hiệu Kubota DC- 70 Plus có giá trị 150.000 đồng; Nắp bình nhiên liệu của máy gặt lúa nhãn hiệu Kubota DC- 70 Plus có giá trị 320.000 đồng; Bó dây điện thân 2 Plus của máy gặt lúa nhãn hiệu Kubota DC- 70 Plus có giá trị 9.170.000 đồng; Bộ dây điện phiễu của máy gặt lúa nhãn hiệu Kubota DC- 70 Plus có giá trị 600.000 đồng; Bơm điện nhiên liệu của máy gặt lúa nhãn hiệu Kubota DC- 70 Plus có giá trị 1.000.000 đồng; Ống nhiên liệu của máy gặt lúa nhãn hiệu Kubota DC- 70 Plus có giá trị 130.000 đồng; Vải bạt nắp chắn bụi của máy gặt lúa nhãn hiệu Kubota DC- 70 Plus có giá trị 730.000 đồng; Thanh nẹp của máy gặt lúa nhãn hiệu Kubota DC- 70 Plus có giá trị 720.000 đồng. Tổng tài sản định giá là 14.610.000 đồng.

Về dân sự: M là người được anh Thiện nhờ trông coi tài sản đã yêu cầu T phải bồi thường cho chủ sở hữu chiếc máy gặt số tiền 15.000.000 đồng. Ngày 10/11/2022, T đã bồi thường cho anh Thiện tổng số tiền 15.000.000 đồng. Đến nay M, anh Thiện đã nhận số tiền trên, không yêu cầu bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T.

Về vật chứng vụ án: Đối với các mẫu vật thu giữ khi khám nghiệm hiện trường và chiếc bật lửa ga màu đỏ đã được Cơ quan CSĐT- Công an huyện Việt Yên gửi giám định Viện khoa học hình sự- Bộ Công an đã sử dụng hết; chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98M4- 0409 và đăng ký của xe mô tô là tài sản cá nhân của T nên Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.

Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay Đỗ Đức T khai nhận toàn bộ hành vi : khoảng 14 giờ ngày 02/10/2022, T đi ra cánh đồng thôn B, xã T, huyện Việt Yên để thuê máy gặt lúa của M. T gặp M để đặt vấn đề nhờ M gặt lúa cho ruộng nhà T trước. Do M nhận khoán nhiều ruộng khác nên bảo T phải chờ đến lượt. Thấy M nói vậy, T đến nhà ông Đỗ Văn Chiều ngồi uống nước đợi đến lượt cắt lúa. Khoảng 16 giờ ngày 02/10/2022, T thấy ruộng lúa của nhà mình vẫn chưa được gặt nên đã bực tức, chửi M. Trong lúc cãi chửi nhau, T có nói “Chiếc máy gặt này không qua được 11 giờ đêm nay” rồi bỏ về nhà ông Chiều ăn cơm tại đó. Đến khoảng 22 giờ ngày 02/10/2022, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Salut, màu sơn xanh, biển kiểm soát 98M4 - 0409 để đi về nhà. Khi đi đến gần nhà M, T nhìn thấy máy gặt lúa của anh Thiện để ở cổng (anh Thiện giao máy gặt cho M trông coi giúp). Do bực tức việc cãi nhau với M từ chiều nên T đã nảy sinh ý định đốt bộ phận máy của máy gặt cho đỡ bực tức. Quan sát thấy không có ai, T lấy ba bao tải dứa mang đi đựng thóc màu trắng để trên xe mô tô đem đến gần đuôi chiếc máy gặt rồi T bật lửa đốt cháy các bao tải dứa và vứt vào khu vực đuôi máy gặt thấy máy gặt bùng cháy, rồi T lên xe mô tô đi về nhà.

Tại phiên tòa M khai; do có quan hệ quen biết với anh Thiện, chị Tần cho nên anh Thiện chị Tần đưa máy gặt lên thôn B, xã T, để gặt lúa cho bà con trong thôn. Do nhiều người có nhu cầu gặt lúa cho nên ruộng của nhà T chưa gặt ngay được dẫn đến mâu thuẫn nên tối ngày 02/10/2022 T đã dùng bật lửa châm lửa đốt máy gặt lúa của anh Thiện chị Tần để ở cổng nhà anh. Máy gặt lúa của anh Thiện, chị Tần khi đưa lên để gặt lúa giữa anh và anh Thiện, chị Tần thỏa thuận với nhau là lên trên nhà anh gặt lúa anh là người chịu trách nhiệm, anh Thiện, chị Tần giao cho anh quản lý và trông nom mọi vấn đề xẩy ra anh chịu trách nhiệm. T dùng bật lửa và bao tơ dứa đốt cháy làm hư hỏng một số bộ phận của chiếc máy gặt lúa nhãn hiệu Kubota DC-70 Plus trị giá 14.610.000 đồng. Nay T đã bồi thường đầy đủ cho anh và anh Thiện ngoài ra T là người cùng xã cho nên anh không yêu cầu gì mà đề nghị xem xét giảm nhẹ cho T.

Ông Thiện, bà Tần vắng mặt tại phiên tòa, lời khai tại cơ quan điều tra đều trình bầy: Ông, bà có mua một máy gặt lúa để đi gặt thuê, tháng 10/2022 do quen biết M cho nên ông bà đã đưa máy gặt nhãn hiệu Kubota DC- 70 Plus về thôn B, xã T gặt lúa. Thỏa thuận với M là ông bà đưa máy gặt lên trên khu vực nhà M thì M là người chịu trách nhiệm và M là người quản lý và trông nom mọi vấn đề xẩy ra M chịu trách nhiệm. Nay T đã bồi thường đầy đủ cho nên ông không yêu cầu gì mà đề nghị xem xét giảm nhẹ cho T.

Tại phiên tòa anh Thục trình bầy: anh là em T sau khi T làm hỏng máy gặt của M và anh Thiện thì T có nói với anh mang tiền đến bồi thường cho M và anh Thiện cho nên anh đã mang 10.000.000 đồng đến để bồi thường cho anh Thiện và M số còn lại do T bồi thường. Nay số tiền anh đưa cho M và anh Thiện là số tiền T bồi thường cho M và anh Thiện nên anh không yêu cầu gì.

Từ nội dung trên cáo trạng số; 267/CT- VKS ngày 30/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên đã truy tố Đỗ Đức T về tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 178 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên đề nghị: Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt Đỗ Đức T: Từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ xung; không áp dụng hình phạt bổ xung đối với bị cáo;

Về tang vật của vụ án; Căn cứ Điều 106 trả cho Đỗ Đức T 01 xe mô tô nhãn hiệu Salut, biển kiểm soát 98M4- 0409 và đăng ký của xe mô tô mang tên Đỗ Đức T.

Về án phí: Căn cư Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí tòa án; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và đề nghị tuyên quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện cơ bản theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật.

. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Khoảng 22 giờ ngày 02/10/2022, tại thôn Hà Thượng, xã T, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; Đỗ Đức T đã có hành vi dùng bật lửa và bao tơ dứa đốt cháy làm hư hỏng một số bộ phận của chiếc máy gặt lúa nhãn hiệu Kubota DC- 70 Plus có giá trị 14.610.000 đồng của anh Dương Văn M- sinh năm 1971, trú tại thôn Hà Thượng, xã T, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đang quản lý, trông coi. Như vậy đã có đủ căn cứ để kết luận Đỗ Đức T phạm tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” vi phạm khoản 1 điều 178 Bộ luật hình sự

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo T khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trong, người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, sau khi phạm tội đã đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cho nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Làm mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang dao động bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải xử nghiêm đối với bị cáo để giáo dục riêng và góp phần ngăn đe phòng ngừa chung nhưng xét thấy sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú, khai báo T khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trong, người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, giá trị tài sản bị hư hỏng không lớn, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 cho nên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần đáng kể khi quyết định hình phạt. Bị cáo Đỗ Đức T có nơi cư trú rõ ràng, điều kiện kinh tế khó khăn vợ chết một mình nuôi mẹ già và 4 con còn đang ăn học và thuộc hộ cận nghèo ở địa phương, bị coa nhất thời phạm tội; Xét thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ giáo dục, cải tạo bị cáo trở T công dân có ích cho xã hội, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật và phù hợp với hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và điều 65 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên cũng đề nghị cho bị cáo T được hưởng án treo xét là phù hợp cần chấp nhận.

Về hình phạt bổ xung bị cáo T thuộc đối tường hộ cận nghèo ở địa phương cho nên cần miễn hình phạt bổ xung là phạt tiền cho bị cáo.

Về dân sự; M, ông Thiện đã được bồi thường toàn bộ thiệt hại không yêu cầu cho nên không xem xét.

Về tang vật của vụ án: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Salut, biển kiểm soát 98M4- 0409 là tài sản và là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình bị cáo, hoàn cảnh gia đình khó khăn thuộc hộ cận nghèo ở địa phương, hơn nữa chiếc xe đã cũ. Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát cũng đề nghị trả cho bị cáo chiếc xe mô tô và đang ký xe mô tô xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp vì vậy cần trả cho Đỗ Đức T 01 xe mô tô nhãn hiệu Salut, biển kiểm soát 98M4- 0409 và đăng ký của xe mô tô mang tên Đỗ Đức T.

Về án phí; Đỗ Đức T thuộc đối tường hộ cận nghèo ở địa phương cho nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 331; Điều 332, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự

Xử phạt; Đỗ Đức T; 10 tháng ( Mười tháng) tù về tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt bổ xung là phạt tiền cho bị cáo T

Giao Đỗ Đức T cho Uỷ ban nhân dân xã T, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 Bộ luật hình sự.

- Về tang vật của vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả cho Đỗ Đức T 01 xe mô tô nhãn hiệu Salut mầu xanh, biển kiểm soát 98M4- 0409 và đăng ký của xe mang tên Đỗ Đức T.

Về án phí: Căn Cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị caó.

Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết

quyền được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ