vanban.org

Bản án 11/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 24/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C1 phạm tội: "Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn C1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 09/11/2022. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 30 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 585, Bộ luật Dân sự. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn C1, phải trả cho chị Bùi Thị H1 số tiền 1.630.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C1 - TRộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C1 phạm tội: "Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TT
TỈNH TH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/HS-ST
Ngày: 24 - 02 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT, TỈNH TH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Thuận; ông Đinh Văn Tân.

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thắm - Thư ký tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh TH.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, tỉnh TH tham gia phiên toà: Ông Vũ Khánh Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 24/02/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh TH xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 01/2023/TLST-HS, ngày 04/01/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐXXST-HS, ngày 09/02/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh ngày 06 tháng 4 năm 1992, tạị: xã TC, TT, TH; Nơi thường trú: thôn XL, xã TC, huyện TT, tỉnh TH; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn D1 (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị V1 - Sinh năm: 1957; Vợ: đã ly hôn; bị cáo có 01 con sinh năm 2013.

Tiền án: 01 tiền án: Ngày 16/02/2017, bị TAND thị xã PY, tỉnh TN xử phạt 07 năm tù về tội Cướp tài sản. Chấp hành xong ngày 27 /01/2022.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/11/2022, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện TT, tỉnh TH,

Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Chị Bùi Thị H1 - sinh năm 1983;

Trú tại: thôn ĐH, xã TS, huyện TT, tỉnh TH. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 09/11/2022, Nguyễn Văn C1 - sinh năm 1992 trú tại thôn XL, xã TC, huyện TT, đi bộ từ cầu KT vào khu vực khu phố 5 Thị trấn KT, huyện TT; khi đến trường Mầm non thị trấn KT phát hiện có 01 chiếc xe mô tô HONDA Airblade, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 36G5 – 067.77, cắm sẵn chìa khóa, không có người trông coi, đang dựng ở lề đường phía trước khu vực trường Mầm non thị trấn KT, Công đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe này. Công lại gần chiếc xe, mở khóa điện, nổ máy điều khiển xe mô tô đi về khu vực xã TC. Khi về đến khu vực đoạn đường vắng, sau núi đá thuộc xã TC, Công đã dừng xe, mở cốp kiểm tra bên trong cốp xe, thấy có một bì thư đã cũ, viền xanh - đỏ - trắng, có dòng chữ “Anh Bảo - Mừng SN em”, bên trong có 7.000.000 đồng đều là tiền mệnh giá 500.000đồng, một tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, một tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, một tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng và một số giấy tờ tùy thân mang tên Bùi Thị H1. Công đã lấy toàn bộ số tiền, còn giấy tờ tùy thân của chị Hiền, Công vẫn để nguyên trong cốp xe. Sau đó Công tiếp tục điều khiển xe về nhà, trên đường đi Công đã tiêu xài hết 1.630.000đồng. Chiếc xe mô tô HONDA Airblade, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 36G5-067.77 được xá định là xe của chị Bùi Thị H1 - sinh năm 1983, trú tại thôn ĐH, xã TS. Ngày 09/11/2022 chị Hiền đi đến trường Mầm non thị trấn KT để làm việc, để xe ở gần cổng trường, quên rút chìa khóa điện. Khi xong việc quay ra cổng trường, chị phát hiện chiếc xe đã bị kẻ gian lấy mất, nên chị Hiền đã đến Công an huyện TT báo cáo vụ việc.

Đến khoảng 15 giờ 30 cùng ngày, Nguyễn Văn C1 biết việc trộm cắp tài sản của mình đã bị phát hiện, nhận thấy hành vi của bản thân không thể trốn tránh nên Công đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TT đầu thú, tự nguyện giao nộp lại chiếc xe và số tiền sau khi tiêu sài còn lại là 5.690.000 đồng cùng toàn bộ giấy tờ tùy thân của chị Hiền.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 20/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện TT: Giá trị chiếc xe mô tô HONDA Airblade, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 36G5-067.77 cũ, đã qua sử dụng tại thời điểm bị chiếm đoạt là 11.000.000đ (Mười một triệu đồng).

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn C1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cóa tại Cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của người bị hại, hình ảnh thu giữ được ở camera anh ninh tại khu vực cổng trường Mầm non thị trấn KT, hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được.

Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ:

- 01 xe mô tô HONDA Airblade, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 36G5-067.77 cũ, đã qua sử dụng;

- 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 giấy phép lái xe hạng B2, 01 đăng ký xe biển kiểm soát 36G5-067.77 đều mang tên Bùi Thị H1.

- Tiền Việt Nam đồng gồm: 11 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 50.000đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 10.000đồng. Tổng số tiền là 5.690.000đ (Năm triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng).

Sau khi tiến hành định giá tài sản và giám định tiền, Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ tài sản thu giữ trên cho chủ sở hữu là chị Bùi Thị H1.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại chị Bùi Thị H1 yêu cầu Nguyễn Văn C1 bồi thường cho chị số tiền 1.630.000đồng. Công chưa bồi thường khoản này.

Tại bản cáo trạng số: 08/CT - VKSTT ngày 30/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, tỉnh TH truy tố Nguyễn Văn C1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn C1 từ 24 (hai mươi bốn) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng tù, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam trước đó.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Bùi Thị H1 số tiền 1.630.000đ (Một triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng).

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là tiền cho bị cáo Nguyễn Văn C1.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh tụng: Bị cáo Nguyễn Văn C1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ một phần hình phạt để có cơ hội sửa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên Cơ quan điều tra công an huyện TT và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện TT trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn C1 đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với diễn biến, thời gian, địa điểm và tang vật của vụ án cùng với những tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 10 giờ ngày 09/11/2022, tại khu vực trường Mầm non thị trấn KT, Nguyễn Văn C1 đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, chiếm đoạt 01 xe mô tô HONDA Airblade, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 36G5-067.77 trị giá 11.000.000đ, số tiền 7.320.000đ và một số giấy tờ tùy thân của chị Bùi Thị H1. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 18.320.000đ (Mười tám triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng). Nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi trộm cắp 01 xe mô tô HONDA Airblade trị giá 11.000.000đ và số tiền 7.320.000đ của bị cáo Nguyễn Văn C1 là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, gây tâm lý hoang mang trong cộng đồng dân cư. Do đó cũng cần lên một mức án phù hợp với quy định của pháp luật đối với bị cáo, nhằm giáo dục riêng bị cáo Công cũng như phòng ngừa chung.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Ngày 16/02/2017, bị TAND thị xã PY, tỉnh TN xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”, Ngày 27 /01/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt, đến nay chưa được xóa án tích. Do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn C1 đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn C1 có 01 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS và có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt.

Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh, bị cáo Công không có nghề nghiệp, không có tài sản, nên miễn hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Bùi Thị H1 đã nhận lại tài sản là 01 chiếc xe mô tô HONDA Airblade, các giấy tờ gồm 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 giấy phép lái xe hạng B2, 01 đăng ký xe biển kiểm soát 36G5-067.77 và số tiền 5.690.000đồng. Số tiền bị cáo đã chiếm đoạt chưa trả lại là 1.630.000đồng, chị Hiền yêu cầu bị cáo phải bồi thường. HĐXX thấy đây là tài sản của chị Hiền, bị cáo chưa bồi thường nên cần buộc bị cáo bồi thường số tiền 1.630.000đồng cho chị Hiền là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C1 phạm tội: "Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn C1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 09/11/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 30 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 585, Bộ luật Dân sự. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn C1, phải trả cho chị Bùi Thị H1 số tiền 1.630.000đ đ (Một triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng).

Kể từ khi chị Bùi Thị H1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chưa thi hành án, hàng tháng bị cáo Nguyễn Văn C1 phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 BLDS trên số tiền bị cáo phải thi hành án, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 6, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn C1 phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại Bùi Thị H1. Bị cáo Nguyễn Văn C1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại Bùi Thị H1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bán được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì

người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Thuận

Bùi Văn Tuấn

Đinh Văn Tân Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- Bị hại; -VKSND huyện TT;

- VKSND tỉnh TH;

- Công an huyện TT;

- THAHS công an TT;

- chi cục THADS TT

Bùi Văn Tuấn

- Lưu hồ sơ vụ án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Thuận

Bùi Văn Tuấn

Đinh Văn Tân

Cỡ chữ