- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH: 1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HS-ST Ngày: 29-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kỳ Việt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Trung Thành, bà Cầm Thị Quyến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cầm Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 29/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2023/TLST-HS ngày 14/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST-HS ngày 17/11/2023 đối với bị cáo:
Quàng Văn C; tên gọi khác: Không; sinh năm 1995 tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản C, xã D, huyện S C, tỉnh Sơn La; số định danh cá nhân: 014095xxxxxx; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn V (đã chết) và bà Lường Thị T, sinh năm: 1960; vợ, con: Chưa có; tiền tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/9/2023, chuyển tạm giam ngày 25/9/2023, cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 16 giờ 45 phút ngày 16/9/2023, tại khu vực bản Tôm Hùm, xã Mường Và, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an xã Mường Và, huyện Sốp Cộp trong quá trình làm nhiệm vụ đã phát hiện bắt quả tang Quàng Văn C (Sinh năm 1995; nơi cư trú: Bản C, xã D, huyện S C) về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: Phát hiện thu giữ trong lòng bàn tay phải của Quàng Văn C 01 gói nilon màu hồng, bên trong có 02 viên nén hình tròn màu hồng (Nghi là ma túy tổng hợp).
Ngày 17/9/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sốp Cộp đã tiến hành cân tịnh số vật chứng là 02 viên nén màu hồng do thu giữ của Quàng Văn C, có tổng khối lượng là 0,17 gam (Không phẩy mười bảy gam). Sử dụng toàn bộ 0,17 gam đánh ký hiệu Q làm mẫu gửi giám định. Kết luận giám định số 2209/KL-KTHS ngày 19/9/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: "- Mẫu gửi giám định ký hiệu Q là ma túy, loại Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,17 gam.
- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,17 gam; Loại Methamphetamine". Tại cơ quan CSĐT Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La bị can Quàng Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 16/9/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Quàng Văn C dời khỏi nhà anh rể Lò Văn T (Sinh năm 1986, địa chỉ: Bản Tôm Hùm, xã Mường Và, huyện Sốp Cộp) đi bộ loanh quanh khu vực bản Tông Hùm, xã Mường Và tìm mua ma túy sử dụng. Trên đường đi C gặp một người đàn ông dân tộc thái không quen biết, Chaư hỏi và đã mua được của người đó 02 viên ma túy được gói bằng mảnh nilon màu hồng với số tiền là 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy C cầm trong lòng bàn tay phải tìm nơi vắng người để sử dụng. Tuy nhiên chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Mường Và, huyện Sốp Cộp phát hiện bắt quả tang khi đang cần trên tay gói nilon màu hồng, bên trong có 02 viên ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,17 gam như đã nêu trên. Cáo trạng số 67/CT-VKSSC ngày 14/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La đề nghị truy tố bị can Quàng Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp giữ quyết định truy tố bị cáo Quàng Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Quàng Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và xử phạt bị cáo mức án từ 14 đến 17 tháng tù;
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo. Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu hồng và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến: Thừa nhận ngày 16/9/2023 đã bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 0,17 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo thành khẩn khai nhận tội; bị cáo có bố và các cụ bên ngoại là người có công với cách mạng mà giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 16/9/2023, bị cáo Quàng Văn C (có căn cước lý lịch như trên) đã bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 0,17gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự để biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vật nhà nước cấm mua, bán, sử dụng, nhưng vì nghiện ngập mà bất chấp hậu quả nguy hiểm cho xã hội cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ là ma túy; kết luận giám định về ma túy và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Quàng Văn C đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine,Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền thống nhất quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm sử dụng cho bản thân trước hết xâm hại đến chính sức khỏe của bị cáo, sau là hành vi tiếp tay cho loại tội phạm khác như mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý trong xã hội gia tăng; là nguyên nhân làm phát sinh, lây lan tệ nạn sử dụng trái phép chất ma túy trong xã hội hiện nay. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian đủ mức trừng trị răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo thành người công dân có ý thức chấp hành pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy, phạm tội lần đầu.
- Tình tiết tăng nặng: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Xét quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận tội; bị cáo có bố đẻ ông Quàng Văn V được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì và có các cụ bên ngoại là những người có công với cách mạng. Nên được xem xét áp dụng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. [5] Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo không có tài sản để thi hành. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng. [6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 0,17 gam Methamphetamine là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, vật cấm lưu hành, lẽ ra cần tuyên tịch thu tiêu hủy, tuy nhiên đã sử dụng hết trong quá trình giám định. Do vậy tại phiên tòa không đặt ra vấn đề xử lý.
- Đối với 01 mảnh nilon màu hồng là vật gói ma túy ban đầu. Cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; để tuyên tịch thu tiêu hủy. [7] Đối với nguồn gốc ma túy bị bắt giữ, theo bị cáo khai do mua của một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết ở bản Tông Hùm, xã Mường Và, huyện Sốp Cộp. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không cung cấp được thông tin về tên, tuổi và đặc điểm nhận dạng của đối tượng. Do vậy không có cơ sở để điều tra làm rõ. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với khối lượng ma túy bị phát hiện bắt giữ. [8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. [9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH: 1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Quàng Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Quàng Văn C 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 16/9/2023 (Ngày tạm giữ bị cáo). 2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) phong bì thư của Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, đã được niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong, một mặt phong bì ghi: "Vật chứng lưu kho vụ: Quàng Văn C - Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt 16/9/2023 tại bản Tông Hùm, xã Mường Và, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Bên trong phong bì có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy màu hồng đựng ban đầu";
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Báo cho bị cáo biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (29/11/2023)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Sốp Cộp; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Cơ quan THAHS CA huyện Sốp Cộp; - Cơ quan THAHS CA tỉnh Sơn La; - Trại tạm giam CA tỉnh Sơn La; - Chi cục THADS huyện Sốp Cộp; - Bị cáo; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kỳ Việt |