- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến Đô - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội "Tàng trữ hàng cấm".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LT TỈNH VĨNH PHÚC ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HS-ST Ngày 16 - 02 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LT, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Kim Thị Ánh Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Ngọc Thịnh
Ông Lê Thanh Nhất
- Thư ký phiên tòa: Bà Khương Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Ngô Trường Út- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2023/TLST- HS ngày 17 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 18/12/1999; nơi cư trú: TDP L, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Tiến T (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: Chưa có;
Tiền án: Không.
Tiền sự: 01
+ Quyết định số 14 ngày 28/8/2020, Tòa án nhân dân thành phố V đưa Nguyễn Tiến Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 21 tháng. Đ chấp hành xong ngày 05/6/2022.
Nhân thân:
+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1952 ngày 24/01/2016 Công an thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 350.000 đồng về hành vi đánh bạc(mua số lô, số đề). Ngày 29/01/2016 Đ đã nộp phạt xong, đến nay đã được xóa tiền sự.
+ Quyết định số 02 ngày 15/04/2016, Tòa án nhân dân thành phố V đưa Nguyễn Tiến Đ vào Trường giáo dưỡng thời hạn 12 tháng. Đ chấp hành xong ngày 11/6/2017. Hiện đã được xóa tiền sự.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2022 đến ngày 13/01/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn, hiện tại ngoại (có mặt).
+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: :
- Anh Nguyễn Quang T1, sinh năm 2000; nơi cư trú: TDP Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 10 năm 2022, Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1999 ở tổ dân phố L, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc một mình đi ra quán internet ở thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc vào mạng xã hội Facebook thấy có người (Đ không nhớ tên nick của người này) đăng thông tin, hình ảnh bán pháo hoa nổ, do có nhu cầu mua pháo hoa nổ về đốt trong dịp tết Nguyên đán năm 2023 nên Đ nhắn tin hỏi mua pháo hoa nổ thì người này nói đang có 11 hộp pháo hoa nổ bán với giá 2.750.000 đồng (một hộp có giá 250.000 đồng), và hẹn tối ngày 30/10/2022 đến trao đổi mua bán pháo hoa nổ tại khu vực gần phòng giao dịch Agribank chi nhánh xã Đ thuộc thôn T, xã Đ, huyện LT, Đ đồng ý. Chiều ngày 30/10/2022 Đ mượn điện thoại của người đi đường gọi cho Nguyễn Quang T1, SN 2000 ở tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc rủ và nhờ T1 chở Đ lên xã Đ, huyện LT để chơi thì T1 đồng ý. Khoảng 19 giờ cùng ngày, T1 điều khiển xe mô tô Exciter, nhãn hiệu Yamaha, BKS: 88K1 – 181.67 đến đón và chở Đ đi, đến khoảng 20 giờ cùng ngày khi đi đến khu vực gần phòng giao dịch Agribank chi nhánh xã Đ, Đ nhìn thấy có một nam thanh niên đứng một mình ở ven đường gần đó (cách vị trí Đ và T1 khoảng 100 mét), Đ bảo T1 dừng xe và đứng chờ ở đó còn Đ một mình đi bộ đến gặp nam thanh niên này, gặp nhau người này bảo Đ đưa tiền để bán pháo hoa nổ cho, do sợ là pháo hoa nổ giả nên Đ nói với người này là chỉ đưa trước 100.000 đồng đem pháo về kiểm tra nếu là pháo thật thì sẽ trả hết số tiền còn lại thì người này đồng ý, Đ đưa tiền và người này chỉ cho Đ vị trí để pháo hoa nổ, cách vị trí hai người đứng khoảng 05 mét, sau đó người đàn ông đi đâu Đ không rõ, còn Đ đi đến mở bao tải kiểm tra thấy có 11 hộp pháo hoa nổ sau đó Đ cuốn kín rồi xách lại vị trí T1 đang chờ và lên xe bảo T1 đưa về. Khi đi về đến khu vực ngã ba chợ thuộc thôn T, xã Đ, huyện LT, Đ bảo T1 dừng xe để mua bao thuốc lá thì bị lực lượng Công an xã Đ kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ gồm: 01 bao tải xác rắn màu trắng, bên trong bao tải có 11 khối hộp hình chữ nhật có kích thước chiều cao 13cm, chiều rộng 10,5cm, các khối hộp đều được bọc bên ngoài bằng giấy có nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài (Đ khai nhận 11 khối hộp trên là pháo hoa nổ mua về để sử dụng được niêm phong ký hiệu M1) và tạm giữ 01 xe mô tô của T1.
Ngày 02/11/2022, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc có văn bản số 3318/KLGĐ, kết luận: 11 khối hộp của mẫu kí hiệu M1 gửi giám định đều là pháo, loại pháo nổ (pháo hoa nổ), có tổng khối lượng là 6,855kg (sáu phảy tám năm năm kilôgam, không kể hộp giấy catton niêm phong bao gói).
Về nguồn gốc pháo hoa nổ của Đ: Quá trình điều tra xác định Đ quên mật khẩu của tài khoản facebook của mình và không biết thông tin tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người bán pháo hoa nổ cho mình và không nhận dạng được. Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý.
Đối với anh Nguyễn Quang T1 là người được Đ nhờ chở đi, kết quả điều tra xác định: T1 không biết Đ rủ đến xã Đ, huyện LT để mua pháo hoa nổ, khi Đ trao đổi mua pháo hoa nổ trời tối, khoảng cách xa, bản thân Đ không nói nên T1 không biết. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với T1 là có căn cứ.
+ Về vật chứng thu giữ:
- 11 khối hộp bên trong chứa 6,855 kg pháo nổ (pháo hoa nổ), cơ quan giám định hoàn lại 5,019kg là vật Nhà nước cấm lưu hành và 01 bao tải xác rắn màu trắng cần tịch thu tiêu huỷ.
- 01 xe máy Exciter, nhãn hiệu Yamaha, BKS: 88K1 – 181.67, quá trình điều tra xác định chiếc xe này là của anh Nguyễn Văn T2 (anh rể T1) cho T1 mượn làm phương tiện đi lại. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh T2 là đúng chủ sở hữu.
Tại Cáo trạng số: 11/CT- VKSLT ngày 17/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện LT truy tố bị cáo Nguyễn Tiến Đ về tội “Tàng trữ hàng cấm" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LT đề nghị giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội "Tàng trữ hàng cấm"; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Tiến Đ từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, trừ đi thời giam tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2022 đến ngày 13/01/2023; Do Nguyễn Tiến Đ không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, tài sản nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo Đ không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và cộng đồng lao động trở thành người công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện LT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện LT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tiến Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ khẳng định: -Khoảng 20 giờ ngày 30/10/2022, tại khu vực ngã ba chợ thuộc thôn T, xã Đ, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Tiến Đ đã có hành vi tàng trữ 6,855kg pháo nổ (pháo hoa nổ) mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện LT phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Tiến Đ đã phạm tội "Tàng trữ hàng cấm". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Điều 191 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào tàng trữ, … hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, … thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…
c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;
Xét nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
. Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử lý nghiêm trước pháp luật, cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng, và phòng ngừa chung. Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như tính chất mức độ thực hiện tội phạm, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo là điều cần thiết.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng... hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm" do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với anh Nguyễn Quang T1 là người được Đ nhờ chở đi, T1 không biết Đ rủ đến xã Đ, huyện LT để mua pháo hoa nổ, khi Đ trao đổi mua pháo hoa nổ trời tối, khoảng cách xa, bản thân Đ không nói nên T1 không biết. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với T1 là có căn cứ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T2 vắng mặt tại phiên tòa, đã có lời khai xác nhận đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Về xử lý vật chứng: 11 khối hộp bên trong chứa 6,855 kg pháo nổ (pháo hoa nổ), cơ quan giám định hoàn lại 5,019kg là vật Nhà nước cấm lưu hành và 01 bao tải xác rắn màu trắng cần tịch thu, tiêu huỷ.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tiến Đ phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội "Tàng trữ hàng cấm".
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, trừ đi thời giam tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2022 đến ngày 13/01/2023.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 bao tải xác rắn màu trắng;
- Tịch thu, tiêu hủy mẫu và bao gói mẫu vật chứa 5,019kg pháo nổ do cơ quan giám định hoàn lại .
(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 02 năm 2023 giữa Công an huyện LT và Chi cục Thi hành án dân sự huyện LT).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Tiến Đ phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện LT; - TAND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Công an huyện LT; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Những người tham gia tố tụng; - Chi cục THADS huyện LT; - Lưu HS,VP, THAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Kim Thị Ánh Vân |