vanban.org

Bản án 11/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 31/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

điểm h khoản 1 Điều 52 ; Điều 55; khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự.

326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? điểm h khoản 1 Điều 52 ; Điều 55; khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC THUỶ
TỈNH HÒA BÌNH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/HS-ST
Ngày 31/05/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THUỶ, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Hùng Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Bùi Hữu Thành.

- Ông Vũ Xuân Hải.

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thắm – Thẩm tra viên.

Đại diện Viện kiểm sát huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: bà Trần Ngọc Diệp - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 05 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2023/HSST ngày 26/4/2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST-HS ngày 17/5/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: TVH; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10 tháng 03 năm 1980, tại: UH, TP. Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Hộ khẩu thường trú (HKTT): thôn ĐG, HP, UH, TP. Hà Nội; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Trần Văn T (đã chết); Con bà: Lê Thị M, sinh năm 1952; Vợ Trương Thị X, sinh năm 1980; 02 con; Tiền án, Tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2003 TAND tỉnh Hà Tây (nay là TAND thành phố Hà Nội) xử phạt 09 năm tù về tội Cướp tài sản; Năm 2011 bị TAND huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Năm 2013 bị TAND huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội xử phạt 31 tháng 09 ngày tù về tội trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12 tháng 02 năm 2023 đến nay tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Lạc Thủy. Có mặt tại phiên tòa.

* Người Bị hại: chị Phạm Thị M, sinh năm 1987, HKTT: 155 NLT, XPh, thành phố H, tỉnh TTH; Hiện trú tại: KĐ, thị trấn BHĐ, huyện LThy, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

* Người làm chứng:

1

- Anh MTT, sinh năm 1997; Anh BNH, sinh năm 1983; Anh TDH, sinh năm 1985; Chị ĐTM, sinh năm 1983; Chị NTN, sinh năm 1987; Anh BNK, sinh năm 1987; Chị BKL, sinh năm 2000; Anh LXP, sinh năm 1981; Anh BVĐ, sinh năm 1981. Đều vắng mặt.

Cùng địa chỉ: KĐ, thị trấn BHĐ, huyện LThy, tỉnh Hòa Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa - nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

TVH là đối tượng có nhân thân xấu, không có nghề nghiệp ổn định nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản lấy tiền tiêu sài.

Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 12/02/2023, TVH rủ người đàn ông tên Tr (Không rõ địa chỉ, lai lịch) là đối tượng nghiện, làm nghề lái xe ôm tại khu vực ngã ba đầu đê HX, UH, TP. Hà Nội đến địa bàn huyện LThy, tỉnh Hòa Bình để trộm cắp tài sản thì Tr đồng ý. Sau đó Tr điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn đen, H ngồi sau mang theo một súng bắn điện tự chế bằng mũi tên, đầu mũi tên gắn cố định với 02(hai) thanh kim loại đấu nối với dây điện, 01(một) bình ắc quy 12V gắn 01(một) kích điện) đến địa bàn huyện LThy tìm sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi cả hai đến khu vực KĐ, BHĐ, LThy, Hòa Bình lúc này khoảng 19 giờ 50 phút, phát hiện trước bàn đá trước cửa nhà chị PTM đang xích 01(một) con chó cái, Tr dừng xe ở lề đường Hồ Chí Minh hướng Chợ Bến đi Yên Thủy để chờ và cảnh giới còn TVH cầm theo súng bắn điện tự chế đến gần và bắn vào vùng cổ con chó làm con chó bị ngất. Thấy vậy, H tháo xích cổ con chó và ôm ra xe Tr để tẩu thoát. Lúc này chị ĐTM là hàng xóm của gia đình chị PTM phát hiện, hô hoán, thì quần chúng nhân dân và Công an thị trấn BHĐ, huyện LThy truy đuổi bắt giữ được TVH cùng tang vật của vụ án, còn đối tượng Tr điều khiển xe mô tô tẩu thoát khỏi hiện trường.

Cáo trạng số 13/CT-VKSLT ngày 24/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo TVH về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (BLHS).

* Tại phiên tòa:

- TVH thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng VKS truy tố.

- Chị PTM đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường và chị đề nghị xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật.

- Đại diện VKSND huyện Lạc Thủy thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo TVH về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị HĐXX:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38; điểm s, h khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo TVH từ 6 đến 9 tháng tù.

2

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên đề nghị không đề cập.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS Tịch thu tiêu hủy các vật chứng liên quan đến việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng: 01(một) mũ bảo hiểm xe máy; 01 (một) gương chiếu hậu xe mô tô; 01 (một) bộ dụng cụ súng bắn điện tự chế (gồm 01(một) bình ác quy có gắn dây điện, 01(một) báng súng bằng gỗ, 01(một) đầu súng bằng gỗ có gắn 02(hai) đinh nhọn).

- Lời nói sau cùng: Bị cáo án năn hối lỗi, nhận ra hành vi vi phạm pháp luật xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

. Về hành vi, Quyết định tố tụng: Cơ quan CSĐT Công an huyện Lạc Thuỷ, Điều tra viên; VKSND huyện Lạc Thuỷ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ khẳng định:

Khoảng 19 giờ 50 phút, phát hiện trước bàn đá trước cửa nhà chị PTM tại KM, thị trấn BHĐ, huyện LThy, tỉnh Hòa Bình đang xích một con chó. Tr cảnh giới, còn TVH cầm theo súng bắn điện tự chế đến gần và bắn vào vùng cổ con chó làm con chó bị ngất, H tháo xích cổ con chó và ôm ra xe Tr đã chờ sẵn để tẩu thoát thì bị phát hiện và bắt giữ được TVH cùng tang vật, còn Tr điều khiển xe mô tô tẩu thoát.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 20/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lạc Thủy, Hòa Bình xác định con chó cái, 4 năm tuổi màu lông nâu đỏ nặng 33kg có giá trị là: 3.047.000đ (Ba triệu không trăm bốn mươi bảy nghìn đồng).

. Về tội danh và hình phạt: Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo cấu thành tội

3

“Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy truy tố bị cáo về tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS): Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn. Đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s, h khoản 1Điều 51 BLHS. Những tình tiết giảm nhẹ này là căn cứ để HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Năm 2003 TAND tỉnh Hà Tây (nay là TAND thành phố Hà Nội) xử phạt 09 năm tù về tội Cướp tài sản; Năm 2011 bị TAND huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Năm 2013 bị TAND huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội xử phạt 31 tháng 09 ngày tù về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo đã được xóa án tích. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội.

HĐXX xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, đã trực tiếp xâm phạm một cách trái pháp luật đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

. Về Trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu bồi thường nên HĐXX không đề cập.

Đối với thương tích của TVH xảy ra khi bị quần chúng nhân dân bắt giữ: Bị cáo không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

. Hình phạt bổ sung: Đề nghị của Đại diện VKSND tại phiên tòa là phù hợp nên chấp nhận.

. Vật chứng của vụ án: Đề nghị của Đại diện VKSND tại phiên tòa là phù hợp nên chấp nhận.

Quá trình điều tra xác định con chó do H trộm cắp là tài sản hợp pháp của chị PTM, việc xử lý vật chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Cơ quan CSĐT đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu. HĐXX cho là có căn cứ.

. Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông tên Tr cùng đi trộm cắp tài sản với H và chiếc xe mô tô có đặc điểm như bị cáo TVH khai nhận. Cơ quan CSĐT đã tiến hành điều tra xác minh nhưng chưa xác định được tên, tuổi đối tượng nên không có căn cứ để xử lý. Cơ

4

quan CSĐT tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật. HĐXX cho là phù hợp.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo được tuyên theo quy định tại Điều 331 BLTTHS.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

- Tuyên bố: Bị cáo TVH phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s, h khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo TVH 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/2/2023.

2. Về vật chứng:

Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 01(một) mũ bảo hiểm xe máy; 01 (một) gương chiếu hậu xe mô tô (gương bên phải); 01 (một) bộ dụng cụ súng bắn điện tự chế (gồm 01(một) bình ác quy; 01(một) báng súng bằng gỗ; 01(một) đầu súng bằng gỗ có gắn 02(hai) đinh nhọn).

(Toàn bộ số vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/2/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình)

3. Về án phí:

Căn cứ Khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo TVH phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5

Cỡ chữ