- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Văn B - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG TỈNH ĐẮK LẮK ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:11/2023/HS-ST Ngày 29 – 6 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Lịch, ông Rmah In
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Tấn Duy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Vào ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:11/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2023, Thông báo dời ngày xét xử số 50/2023/TB-TA ngày 21/6/2023 đối với bị cáo:
Lê Văn B; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1968; tại: huyện P – tỉnh Thừa Thiên Huế
Nơi cư trú: Thôn B, xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk;
Nghề nghiệ p: làm nông; trình độ học vấn: 05/12;
Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Lê H (đã chết) và con bà Phạm Thị M1 (đã chết); Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1968 và 04 con (con lớn nhất đã chết, con nhỏ nhất sinh năm 2001);
Tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/02/2023 cho đến ngày 09/6/2023, đến ngày 23/6/2023 thì bị bắt tạm giam. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Nguyễn Văn M, sinh năm 1967 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ T, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Trần Thị Y, sinh năm 1967 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ T, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk
* Người làm chứng:
- Ông Dương Thanh T, sinh năm 1973 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ M, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk
- Ông Phạm Ngọc S, sinh năm 1956 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện C, tỉnh Đắk Lắk
- Ông Phùng Tấn B1, sinh năm 1975 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 26/5/2022, bị cáo Nguyễn Văn M đến khu phòng trọ của Dương Thanh T tại tổ M, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk chơi và ăn nhậu cùng với T và Phạm Ngọc S.
Sau khi uống rượu xong, S đi về ngủ, còn T và ông M đi lên phòng của T, T lên giường nằm ngủ trước, một lúc sau ông M đi vào phòng thì thấy Phùng Tấn B1 đang nằm ngủ với T, còn Lê Văn B đang ngồi chơi, uống rượu dưới nên nhà gần giường T. Thấy ông M nên B gọi ông M cùng ngồi xuống nói chuyện và uống rượu. Trong quá trình nói chuyện và uống rượu giữa ông M và B xảy ra mâu thuẫn cãi nhau về việc B mượn xe mô tô của ông M trước đó mà không nói, ông M chửi B: “Đ.M mày lấy xe tao mà không nói, làm tao tưởng thằng T2 lấy…”, B tức giận vì ông M cứ uống rượu là nhắc đến chuyện mượn xe lại còn có lời lẽ xúc phạm mình nên B đã dùng tay phải tát mạnh một cái vào vùng mặt bên trái của ông M làm ông M ngã nghiêng sang phải, sau khi đánh ông M thì B không tiếp tục ngồi chơi mà đứng dậy, đi ra ngoài lấy xe máy bỏ đi về nhà. Sau khi bị đánh, ông M thấy đau đầu choáng váng nên năm một lúc rồi T dậy đưa ông M vào giường ngồi, sau đó ông M vẫn thấy đau đầu nhưng vẫn cố gượng dậy đi ra ngoài lấy xe đi về nhà. Do đau đầu và mệt nên khi về đến nhà, ông M đã ngủ dưới nền nhà, sau đó thì bị nôn ói. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Bà Trần Thị Y (vợ của ông M) thấy ông M nằm ngủ dưới nên nhà và bị nôn ói, bất tỉnh nên đưa ông M đi cấp cứu tại Bệnh biên đa khoa Vùng Tây Nguyên và được tiến hành phẫu thuật.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1385 ngày 23/11/2022 của Phân viên Khoa học Hình sự tại Thành phố Đà Nẵng kết luận tỷ lệ thương tích của Nguyễn Văn M bị các vết sẹo mổ cùng trán – đỉnh – thái dương trái, kích thước trung B; Sẹo dẫn lưu vùng đỉnh, kích thước nhỏ; Sẹo mổ vùng bụng trái, kích thước trung B; Tụ máu dưới màng cứng (bán cầu trái, vùng trá phải, dọc liềm não) còn ổ máu dưới màng cứng mạn tính bán cầu trái; Khuyết sọ bán cầu trái đáy chắc, kích thước 14cm x 12cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn M tại thời điểm giám định là 45% (Bốn mươi lăm phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích : do vật tày gây nên.
Tại bản cáo trạng số: 07/CT-VKS- HS ngày 27/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông truy tố bị cáo Lê Văn B về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo ăn năn hối lỗi và đồng ý bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại với số tiền 58.359.000 đồng.
Bị hại Nguyễn Văn M: thống nhất chỉ yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe là 58.359.000 đồng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đề nghị bị cáo bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn M tổng số tiền 58.359.000 đồng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Văn B theo cáo trạng số: 07/CT-VKS- HS ngày 27/4/2023, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Về hình phạt:
* Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị HĐXX:
- Xử phạt bị cáo Lê Văn B với mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
* Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị công nhận việc bị cáo Lê Văn B và bị hại Nguyễn Văn M thống nhất mức bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tinh thần là 58.359.000 đồng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng ý và không có ý kiến tranh luận gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Bông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
. Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác được thu thập trong quá trình điều tra, thể hiện:
Vào tối ngày 26/5/2022, tại phòng trọ của Dương Thanh T, tại tổ M, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Văn M và Lê Văn B uống rượu và nói chuyện với nhau thì xảy ra cãi vã về việc B mượn xe mô tô của M trước đó nhưng không nói, tức giận vì mỗi lần nhậu say M lại nhắc lại chuyện cũ và có những lời lẽ xúc phạm mình nên B đã dùng tay phải tát mạnh một cái vùng mặt trái của M làm M ngã nghiêng người sang phải. Sau đó B đứng dậy đi ra ngoài lấy xe máy bỏ về nhà. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, chị Trần Thị Y (vợ của anh M) thấy chồng ngủ ở nền nhà và nôn ói, bất tỉnh nên đã đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Vùng Tây Nguyên. Qua bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1385 ngày 23/11/2022 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Đà Nẵng kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn M tại thời điểm giám định là 45%, cơ chế hình thành là do vật tày gây nên.
Do vậy, hành vi của bị cáo Lê Văn B đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
……………….
Xét thấy bị cáo có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật, vì mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo đã có hành vi dùng tay tát mạnh vào vùng mặt trái của bị hại, gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể lên đến 45%. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến sức khoẻ của bị hại, làm mất trật tự an ninh địa phương nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như mục đích phạm tội của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại đã yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có trình độ học vấn thấp (5/12) nên hạn chế về khả năng nhận thức pháp luật, do đó cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn M và bị cáo Lê Văn B thống nhất bị cáo phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe với số tiền: 58.359.000 đồng (đã làm tròn) là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Lê Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt:
* Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 134; khoản s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn B 02 năm tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 23/6/2023.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 590 của Bộ luật dân sự:
Buộc bị cáo Lê Văn B phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn M thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là 58.359.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Văn B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng chẵn) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 2.920.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
5. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao ; - TAND tỉnh Đăk Lăk; - VKSND huyện Krông Bông; - Sở Tư pháp tỉnh Đăk Lăk; - Phòng PV 06 Công an tỉnh Đăk Lăk; - Cơ quan CSĐT – Công an huyện Krông Bông; - THAHS - CA huyện Krông Bông ; - Chi cục THADS huyện Krông Bông; - Bị cáo; bị hại ; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Tâm |