- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo MAI VĂN V và PHẠM HOÀNG T (Tên gọi khác: Mạnh) đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HS-ST Ngày: 17/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Võ Văn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Văn Minh – Nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu;
2. Ông Nguyễn Thanh Sơn – Nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Lài – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Sang – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 111/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2022/QĐXXST-HS ngày 05/12/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2022/HSST-QĐ ngày 19/12/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2022/HSST-QĐ ngày 27/12/2022, đối với các bị cáo:
1. MAI VĂN V - Sinh ngày 16/12/2005 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố 8, phường ĐLong, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Văn T và bà Nguyễn Thị L; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/12/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 257/2022/HSST. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Phan Thiết từ ngày 11/7/2022 cho đến nay trong một vụ án khác. Bị cáo có mặt.
2. PHẠM HOÀNG T (Tên gọi khác: Mạnh) - Sinh ngày 23/12/2005 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn PNhang, xã HHiệp, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Ngọc H và bà Vũ Thị Thanh T; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.
Người bào chữa của các bị cáo: Bà Nguyễn Thị Kiều Châu – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Thuận (có mặt).
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo MAI VĂN V:
1/ Ông Mai Văn T – Sinh năm 1988 – cha của bị cáo MAI VĂN V (vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố 8, phường ĐLong, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
2/ Bà Nguyễn Thị L – Sinh năm 1989 – mẹ của bị cáo MAI VĂN V (vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố 4, phường PTài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo PHẠM HOÀNG T:
1/ Ông Phạm Ngọc H – Sinh năm 1982 – cha của bị cáo PHẠM HOÀNG T (có mặt).
2/ Bà Vũ Thị Thanh T – Sinh năm 1984 – mẹ của bị cáo PHẠM HOÀNG T (có mặt). Cùng địa chỉ: Thôn Phú Nhang, xã Hàm Hiệp, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Bị hại:
1/ Ông Huỳnh Quốc B – Sinh năm 1985 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn DHiệp, xã HKiệm, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
2/ Bà Nguyễn Thị Kim T – Sinh năm 1997 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn TLợi, xã HThắng, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
3/ Ông Lê Minh T – Sinh năm 1993 (vắng mặt). Địa chỉ: Khu phố 3, phường PHài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị T – Sinh năm 1995 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn TLợi, xã HThắng, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
2/ Ông Đặng Ngọc T – Sinh năm 1995 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố PXuân, thị trấn PLong, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
MAI VĂN V và PHẠM HOÀNG T là những đối tượng chưa đủ 18 tuổi, không có nghề nghiệp đã cùng hai đối tượng tên “Hậu” và “Khang” (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 01/4/2022, trong lúc MAI VĂN V, PHẠM HOÀNG T, Hậu và Khang đang ở nhà nghỉ “Dung Quy” thuộc phường Phú Trinh, thành phố Phan Thiết thì Vũ rủ cả nhóm đi trộm cắp tài sản của người dân để bán lấy tiền tiêu xài và được tất cả đồng ý. Vũ điều khiển xe mô tô, biển số 78G1 (là xe của Khang, không nhớ rõ các số sau) chở Thái ngồi phía sau, Hậu điều khiển xe mô tô (là xe của Hậu, không rõ biển số) chở Khang (theo lời khai của Vũ và Thái), tất cả đi đến khu vực xã Hàm Thắng, huyện Hàm Thuận Bắc tìm kiếm tài sản để lấy trộm. Khi đến khu dân cư Bến Lội thuộc thôn Thắng Thuận, xã Hàm Thắng, Vũ và Thái nhìn thấy có 01 xe mô tô, biển số 86B4-169.72, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu sơn đỏ đen của anh Huỳnh Quốc B làm chủ sở hữu để trước nhà chị Thủy (là bạn quen ngoài xã hội với Bảo), quan sát không thấy có người trông coi, tất cả dừng xe, Thái xuống xe lén lút đi đến dắt trộm xe mô tô, biển số 86B4-169.72 đi ra đường ngồi lên điều khiển để Vũ chạy xe mô tô phía sau dùng chân đẩy xe mô tô, biển số 86B4-169.72 do Thái điều khiển đi về lại thành phố Phan Thiết, Hậu chở Khang chạy theo sau. Khi đến Khu công nghiệp Phan Thiết, Thái và Vũ đưa xe đến nhờ một người sửa chữa ổ khóa dạo (không rõ họ tên, địa chỉ) làm chìa khóa mới. Sau khi làm chìa khóa xong, cả nhóm Vũ đưa xe mô tô, biển số 86B4-169.72 đến tiệm giữ xe ở trước cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Thuận gửi xe lại tại đây, sau đó cả nhóm chở nhau về lại nhà nghỉ “Dung Quy”. Tại đây, Vũ sử dụng điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh dương của Vũ nhưng dùng nickname của Thái tên “Phạm Bi” để truy cập vào mạng Internet đăng hình ảnh xe mô tô, biển số 86B4-169.72 và rao bán với giá 2.000.000đ, sau khi rau bán xe đến khoảng 19 giờ cùng ngày có một người tên Sơn (hiện chưa xác định họ tên và địa chỉ) đồng ý mua xe trên và hẹn địa điểm giao xe mô tô giữa Vũ và Sơn tại khu vực cây xăng “Duy Thành” thuộc phường Phú Tài, thành phố Phan Thiết, sau khi giao dịch xong khoảng 30 phút sau cả nhóm Vũ, Thái, Hậu và Khang đi đến nơi gửi xe trước đó, lấy xe đem đến địa điểm giao dịch gặp và bán xe vừa trộm được cho đối tượng tên Sơn lấy số tiền 2.000.000đ. Số tiền bán xe có được, Vũ chia cho Thái, Hậu và Khang, mỗi người 500.000đ tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 06/4/2022, khi Vũ, Thái, Khang và Hậu đang ở tại nhà nghỉ “Thu Hương” thuộc phường Phú Thủy, thành phố Phan Thiết, Vũ tiếp tục rủ cả nhóm đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, cả nhóm đồng ý. Vũ điều khiển xe mô tô của Khang chở Thái ngồi phía sau, Hậu điều khiển xe mô tô của Hậu chở Khang, cả bọn tiếp tục đến khu vực xã Hàm Thắng để tìm kiếm tài sản. Khi đến khu vực khu dân cư Bến Lội thuộc thôn Thắng Thuận, xã Hàm Thắng, Vũ và Thái nhìn thấy phía trước nhà ông Nguyễn Trung Tú, sinh năm 1981, ở thôn Thắng Thuận có để 01 xe mô tô, biển số 86B3-164.39, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu sơn đỏ đen xe của chị Nguyễn Thị T làm chủ sở hữu (do không có xe đi làm phụ hồ nên vào sáng ngày 06/4/2022, chị Nguyễn Thị Kim T mượn xe mô tô 86B3-164.39 của chị Tới (là chị ruột của Thơ) để đi làm phụ hồ cho nhà anh Tú), quan sát sung quanh thấy không có người trông coi. Thái lén lút đi đến dắt trộm xe mô tô, biển số 86B3-164.39 ra đường ngồi lên xe để Vũ chạy xe phía sau dùng chân đẩy xe mô tô, biển số 86B3-164.39 do Thái điều khiển đi về hướng Phan Thiết, Hậu và Khang điều khiển xe mô tô chạy theo sau. Khi đến trước khu vực Ban chỉ huy quân sự xã Tiến Lợi, thành phố Phan Thiết, Thái và Vũ đưa xe đến nhờ một người sửa chữa ổ khóa (chưa rõ họ tên, địa chỉ) làm chìa khóa mới. Sau khi làm chìa khóa xong, Vũ lấy chìa khóa mở cốp xe lên kiểm tra thì phát hiện phía trong cốp xe có một số giấy tờ tùy thân gồm: Căn cước công dân và giấy CMND mang tên Nguyễn Thị Kim T cùng số tiền 800.000đ, đối với số tiền 800.000đ Vũ chia mỗi người 200.000đ, còn các giấy tờ tùy thân Vũ đưa cho Khang vứt bỏ (theo lời khai của Vũ), sau đó cả nhóm đưa xe mô tô trên đến tiệm giữ xe ở phía trước cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Thuận gửi xe lại đây, sau khi gửi xong cả nhóm chở nhau về lại nhà nghỉ “Thu Hương”. Tại đây, Vũ tiếp tục dùng nickname của Thái tên “Phạm Bi” để truy cập vào mạng Internet đăng hình ảnh xe mô tô, biển số 86B3-164.39 để rao bán thì có đối tượng tên Sơn (hiện chưa xác định họ tên và địa chỉ) hỏi mua và trao đổi giao dịch với Vũ thống nhất mua xe mô tô trên với giá 2.000.000đ. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, nhóm của Vũ đến tiệm giữ xe lấy mô tô, biển số 86B3-164.39 đưa đến khu vực cây xăng “Duy Thành” thuộc phường Phú Tài, thành phố Phan Thiết giao cho Sơn và nhận số tiền 2.000.000đ. Số tiền bán xe có được, Vũ chia cho mỗi người 500.000đ tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ ba: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 14/4/2022, khi Vũ và Thái đang ở nhà nghỉ “Thu Hương” thuộc phường Phú Thủy, thành Phố Phan Thiết, Vũ tiếp tục rủ Thái đi trộm cắp tài sản bán để lấy tiền tiêu xài, Thái đồng ý. Sau đó, Vũ lấy xe mô tô của Khang điều khiển chở Thái ngồi phía sau đến khu vực xã Hàm Thắng tìm kiếm tài sản để lấy trộm. Khi đến khu vực thôn Thắng Lợi, xã Hàm Thắng, Vũ và Thái nhìn thấy phía trước phòng tập Gym “Đình Miên” cùng thôn Thắng Lợi, xã Hàm Thắng có để 01 chiếc xe mô tô, biển số 86B3-731.83, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu sơn xám đen, xe của anh Lê Minh T làm chủ sở hữu (khi đến phòng tập Gym anh Tĩnh dựng xe ở phía trước), quan sát thấy không có người trong coi. Thái xuống xe lén lút đi đến dắt trộm xe mô tô, biển số 86B3-731.83 ra đường ngồi lên xe để Vũ chạy sau dùng chân đẩy xe mô tô, biển số 86B3-731.83 do Thái điều khiển đi về hướng Phan Thiết. Khi đến khu công nghiệp Phan Thiết, Thái và Vũ đưa xe đến nhờ một người sửa chữa ổ khóa (chưa rõ họ tên, địa chỉ) làm chìa khóa mới. Sau khi làm chìa khóa xong, cả hai đưa xe mô tô, biển số 86B3-731.83 đến một tiệm giữ xe (chưa rõ tên tiệm) ở phía trước Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Thuận gửi xe, sau đó Vũ chở Thái về lại nhà nghỉ “Thu Hương”, khi về lại nhà nghĩ “Thu Hương” thì Vũ và Thái gặp Hậu và Khang, nhưng cả hai không nói gì về việc vừa trộm được xe mô tô trên cho Hậu và khang biết (theo lời khai của Thái và Vũ). Tại đây, Vũ sử dụng điện thoại của Vũ nhưng dùng nickname của Thái tên “Phạm Bi” để truy cập vào mạng Internet đăng bán xe trên trang: “Mua bán xe Phan Thiết”, sau khi đăng thì có nickname tên “Phương Lê” (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua xe nên Vũ đồng ý bán xe mô tô trên cho “Phương Lê” với giá 2.000.000đ. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Vũ và Thái đến nơi gửi lấy xe mô tô trên đưa đến khu vực hồ bơi “Quốc Hùng” thuộc xã Phong Nẫm, thành phố Phan Thiết giao xe mô tô vừa trộm được cho một người đàn ông có nickname “Phương Lê” (hiện chưa xác định được họ tên, địa chỉ) lấy số tiền 2.000.000đ. Số tiền bán xe mô tô có được, Vũ và Thái chia nhau mỗi người 1.000.000đ tiêu xài cá nhân hết.
Ngoài các vụ trộm cắp tài sản trên, quá trình điều tra xác định MAI VĂN V và PHẠM HOÀNG T còn cùng nhau thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản của nhiều người khác tại các khu vực xã Hàm Đức và thị trấn Phú Long cùng huyện Hàm Thuận Bắc; thực hiện nhiều vụ tại thành phố Phan Thiết, thị xã La Gi và huyện Hàm Thuận Nam, hiện các vụ án này đang được các Cơ quan điều tra Công an các huyện, thị xã và thành phố Phan Thiết thụ lý và đang trong giai đoạn điều tra.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 21/2022/HĐĐGTT ngày 09/5/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện Hàm Thuận Bắc, kết luận về giá trị tài sản bị trộm cắp như sau:
- Xe mô tô biển số 86B4-169.72:
+ Loại xe hai bánh, nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, bánh mâm, thắng đĩa, màu sơn đỏ - đen, đăng ký lần đầu 7/2013.
+ Số máy: 5C6K-026501; Số khung: C6KODY026487.
+ Trị giá mới tại thời điểm xảy ra vụ án là 23.900.000 đ.
+ Giá trị sử dụng còn lại là 25%.
Thành tiền: 23.900.000đ x 25% = 5.975.000đ.
- Xe mô tô biển số 86B3-731.83:
+ Loại xe hai bánh, nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, bánh mâm, thắng đĩa, màu sơn xám - đen, đăng ký lần đầu 9/2019.
+ Số máy: E3T6B1239372; Số khung: 1710GY085573.
+ Trị giá mới tại thời điểm xảy ra vụ án là 23.900.000 đ.
+ Giá trị sử dụng còn lại là 60%.
Thành tiền: 23.900.000đ x 60% = 14.340.000đ.
- Xe mô tô biển số 86B3-164.39:
+ Loại xe hai bánh, nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, bánh mâm, thắng đĩa, màu sơn xám - đen, đăng ký lần đầu 10/2012.
+ Số máy: 5C64-703100; Số khung: C640CY703093.
+ Trị giá mới tại thời điểm xảy ra vụ án là 23.900.000 đ.
+ Giá trị sử dụng còn lại là 20%.
Thành tiền: 23.900.000đ x 20% = 4.780.000đ.
Tổng giá trị tài sản định giá là 25.095.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh dương của MAI VĂN V dùng để giao dịch trong mua bán các xe mô tô cho đối tượng tên “Sơn” và “Phương Lê”. Hiện chiếc điện thoại này có liên quan đến các vụ án khác và đang bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phan Thiết tạm giữ để xử lý theo quy định.
- Các xe mô tô 86B3-731.83, 86B4-169.72 và 86B3-164.39 sau khi trộm cắp được Vũ và đồng bọn đã bán cho người khác nên không thu giữ được.
Về dân sự: Ông Lê Minh T, Huỳnh Quốc B và Nguyễn Thị T yêu cầu MAI VĂN V và PHẠM HOÀNG T bồi thường thiệt hại đối với các xe mô tô mang các biển số 86B3-731.83, 86B4-169.72 và 86B3-164.39 bị mất như sau:
- Ông Lê Minh T yêu cầu bồi thường 14.340.000đ và đã nhận được tiền bồi thường từ ông Phạm Ngọc H (cha ruột của Thái) 2.200.000đ, ông Tĩnh tiếp tục yêu cầu số tiền còn lại 12.140.000đ;
- Huỳnh Quốc B yêu cầu bồi thường 10.000.000đ và đã nhận được tiền bồi thường từ ông Phạm Ngọc H (cha ruột của Thái) 1.500.000đ, ông Bảo tiếp tục yêu cầu số tiền còn lại 8.500.000đ;
- Bà Nguyễn Thị T yêu cầu bồi thường 4.780.000đ và đã nhận được tiền bồi thường từ ông Phạm Ngọc H (cha ruột của Thái) 1.500.000đ, bà Tới tiếp tục yêu cầu số tiền còn lại 3.280.000đ.
- Riêng, bà Nguyễn Thị Kim T đã nhận đủ số tiền 800.000đ từ ông Phạm Ngọc H (cha ruột của Thái), bà Thơ không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 122/CT-VKSHTB ngày 18/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố: Bị cáo MAI VĂN V và bị cáo PHẠM HOÀNG T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo MAI VĂN V và bị cáo PHẠM HOÀNG T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo MAI VĂN V)
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo PHẠM HOÀNG T)
Tuyên bố các bị cáo MAI VĂN V và PHẠM HOÀNG T đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Phạt MAI VĂN V từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.
Phạt PHẠM HOÀNG T từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo MAI VĂN V, PHẠM HOÀNG T khai nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định:
Trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2022 đến ngày 14/4/2022, MAI VĂN V và PHẠM HOÀNG T cùng với đối tượng Hậu và Khang (hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch) đã cùng nhau thực hiện 3 vụ trộm cắp tài sản các xe mô tô mang các biển số 86B4-169.72, 86B3-164.39, 86B3-731.83 và 800.000đồng của ông Huỳnh Quốc B, bà Nguyễn Thị T, ông Lê Minh T và bà Nguyễn Thị Kim T tại khu vực xã Hàm Thắng, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Tổng giá trị các tài sản bị chiếm đoạt là 25.895.000 đồng.
Các bị cáo MAI VĂN V, PHẠM HOÀNG T có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo MAI VĂN V và PHẠM HOÀNG T đã phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa các bị cáo MAI VĂN V, PHẠM HOÀNG T khai báo thành khẩn ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo PHẠM HOÀNG T đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị, Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát là hoàn toàn phù hợp, tương xứng với hành vi và hậu quả do các bị cáo gây ra, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
MAI VĂN V và PHẠM HOÀNG T lúc phạm tội chưa đủ 18 tuổi, nên Hội đồng xét xử áp dụng các quy định tại Chương XII của Bộ luật Hình sự để xem xét về hình phạt đối với các bị cáo.
[6] Về dân sự:
Ông Lê Minh T, Huỳnh Quốc B và Nguyễn Thị T yêu cầu MAI VĂN V và PHẠM HOÀNG T bồi thường thiệt hại đối với các xe mô tô mang các biển số 86B3-731.83, 86B4-169.72 và 86B3-164.39 bị mất như sau:
- Ông Lê Minh T yêu cầu bồi thường 14.340.000đ và đã nhận được tiền bồi thường từ ông Phạm Ngọc H (cha ruột của Thái) 2.200.000đ, ông Tĩnh tiếp tục yêu cầu số tiền còn lại 12.140.000đồng.
- Ông Huỳnh Quốc B yêu cầu bồi thường 10.000.000đ và đã nhận được tiền bồi thường từ ông Phạm Ngọc H (cha ruột của Thái) 1.500.000đ, ông Bảo tiếp tục yêu cầu số tiền còn lại 8.500.000đồng.
- Bà Nguyễn Thị T yêu cầu bồi thường 4.780.000đ và đã nhận được tiền bồi thường từ ông Phạm Ngọc H (cha ruột của Thái) 1.500.000đ, bà Tới tiếp tục yêu cầu số tiền còn lại 3.280.000đ.
Xét yêu cầu bồi thường của ông Lê Minh T, bà Nguyễn Thị T: Các bị cáo Vũ, Thái và ông Phạm Ngọc H, bà Vũ Thị Thanh T (cha mẹ của bị cáo Thái) đều đồng ý bồi thường theo số tiền mà ông Tĩnh, bà Tới yêu cầu. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu bồi thường của ông Lê Minh T, bà Nguyễn Thị T.
Xét yêu cầu bồi thường của ông Huỳnh Quốc B thấy rằng Theo Bản kết luận định giá tài sản số 21/2022/HĐĐGTT ngày 09/5/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện Hàm Thuận Bắc, kết luận về giá trị tài sản bị trộm cắp đối với xe mô tô biển số 86B4-169.72 là 5.975.000đồng. Tại phiên tòa các bị cáo Vũ, Thái và ông Phạm Ngọc H, bà Vũ Thị Thanh T (cha mẹ của bị cáo Thái) không đồng ý yêu cầu bồi thường số tiền 10.000.000đồng của ông Huỳnh Quốc B; các bị cáo Vũ, Thái và ông Phạm Ngọc H, bà Vũ Thị Thanh T (cha mẹ của bị cáo Thái) chỉ đồng ý bồi thường theo Kết luận định giá tài sản nêu trên là 5.975.000đồng. Việc ông Bảo yêu cầu bồi thường số tiền cao hơn số tiền theo Bản kết luận định giá tài sản do đó không có căn cứ để chấp nhận và. Do đó, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận mức bồi thường tài sản bị trộm cắp là xe mô tô biển số 86B4-169.72 số tiền 5.975.000đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo MAI VĂN V, PHẠM HOÀNG T và ông Phạm Ngọc H, bà Vũ Thị Thanh T (cha mẹ của bị cáo Thái) xác định các bị cáo không có tài sản để bồi thường cho các bị hại. Nên cha, mẹ của các bị cáo phải liên đới bồi thường cho các bị hại, số tiền phải bồi thường được chia đều cho cha, mẹ của bị cáo Vũ và cha, mẹ của bị cáo Thái. Riêng, số tiền cha, mẹ của bị cáo Thái phải bồi thường sẽ được khấu trừ số tiền đã bồi thường cho các bị hại.
[7] Về các vấn đề khác:
Đối với hành vi của các đối tượng có tên Hậu và Khang là hai người cùng cùng Vũ và Thái thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp các xe mô tô của ông Huỳnh Quốc B và bà Nguyễn Thị T (theo lời khai của Vũ và Thái). Tuy nhiên, đến nay ngoài lời khai của Thái và Vũ ra không còn tài liệu nào khác để chứng minh việc Khang và Hậu có tham gia trộm cắp tài sản cùng với Vũ và Thái hay không. Mặc khác, quá trình điều tra đến nay chưa xác định được nhân thân lai lịch cụ thể của người có tên “Khang” và “Hậu” như Vũ và Thái đã khai nhận. Do đó, việc Cơ quan CSĐT - Công an huyện Hàm Thuận Bắc đã ra quyết định tách hành vi của đối tượng Khang và Hậu ra, để tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau là phù hợp.
Đối với các đối tượng có tên “Sơn” và “Phương Lê” là những người đã mua các xe mô tô của MAI VĂN V cùng đồng bọn trộm cắp có được (theo lời khai của Vũ). Tuy nhiên, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Hàm Thuận Bắc đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể của đối tượng có tên “Sơn” và “Phương Lê” như lời khai của Vũ nên việc Cơ quan CSĐT Công an huyện sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau là phù hợp.
Đối với ý kiến bào chữa của người bào chữa bà Nguyễn Thị Kiều Châu – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bình Thuận về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và áp dụng các quy định đối với người chưa thành niên đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên chấp nhận.
Các bị cáo MAI VĂN V, PHẠM HOÀNG T phải chịu án phí hình sự; Cha, mẹ các bị cáo phải chịu dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ông Huỳnh Quốc B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo MAI VĂN V);
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo PHẠM HOÀNG T);
Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Căn cứ Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 357, Điều 584, Điều 585, Khoản 2 Điều 586, Điều 587, Điều 589 Bộ luật dân sự.
Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Các bị cáo MAI VĂN V và PHẠM HOÀNG T (Tên gọi khác: Mạnh) đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt:
MAI VĂN V 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
PHẠM HOÀNG T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Về dân sự:
- Ông Mai Văn T, bà Nguyễn Thị L phải bồi thường cho ông Lê Minh T số tiền 7.170.000đồng;
- Ông Phạm Ngọc H, bà Vũ Thị Thanh T phải bồi thường cho ông Lê Minh T số tiền 4.970.000đồng.
- Ông Mai Văn T, bà Nguyễn Thị L phải bồi thường cho ông Huỳnh Quốc B số tiền 2.987.000đồng;
- Ông Phạm Ngọc H, bà Vũ Thị Thanh T phải bồi thường cho ông Huỳnh Quốc B số tiền 1.487.500đồng.
- Ông Mai Văn T, bà Nguyễn Thị L phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị T số tiền 2.390.000đồng;
- Ông Phạm Ngọc H, bà Vũ Thị Thanh T phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị T số tiền 890.000đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp có quy định khác.
Về án phí:
Bị cáo MAI VĂN V phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo PHẠM HOÀNG T phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Ông Mai Văn T, bà Nguyễn Thị L phải nộp 628.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Phạm Ngọc H, bà Vũ Thị Thanh T phải nộp 368.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Huỳnh Quốc B phải nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/01/2023). Riêng những người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự”.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Sở tư pháp; -VKSND huyện HTB; - Công an huyện HTB; - Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc; - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Hàm Thuận Bắc; - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Võ Văn THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Võ Văn |