- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con”"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Nguyễn Hoàng Hồng N được ly hôn ông Lưu Minh T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 11/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28-3-2023 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Vũ Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hữu Thành
2. Bà Trương Thị Thanh Hương
Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 457/2022/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 12 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10/3/2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hoàng Hồng N, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Thôn Hiệp Hòa, xã Tân Hải, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
* Bị đơn: Ông Lưu Minh T, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Thôn Tam Tân, xã Tân Tiến, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
(Bà N có mặt, ông T vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và lời trình bày tại Tòa của nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Hồng N có nội dung như sau:
Bà và ông Lưu Minh T tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Tiến, thị xã L. Sau khi kết hôn, cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân: Do vợ chồng bà không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng không cùng quan điểm nên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn dẫn đến cãi vã nhau. Ông T sử dụng chất kích thích, chơi cờ bạc dẫn đến nợ nần. Ngoài ra, ông T không lo làm ăn, thường xuyên gây chuyện và đập phá đồ đạc trong nhà. Ông T thường nhắn tin đe dọa và đến nơi bà N làm để uy hiếp bà. Hiện nay vợ chồng bà đã không còn sống chung hai năm nay, bà N một mình tự nuôi con ăn học, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc hay chia sẽ những buồn vui trong cuộc sống nữa. Bà N nhận thấy tình cảm của bà dành cho ông T nay đã không còn, đời sống chung vợ chồng không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lưu Minh T.
Về con chung: Vợ chồng bà có 02 con chung: Lưu Thanh N (Giới tính: Nữ), sinh ngày 13/5/2018 và Lưu Quang K (Giới tính: Nam), sinh ngày 08/01/2021. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
* Bị đơn: Ông Lưu Minh T:
Quá trình giải quyết, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T không đến Tòa làm việc và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án. Mặc dù, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng tại phiên tòa hôm nay ông T vẫn vắng mặt không lý do.
Theo kết quả xác minh của địa phương: Ông Lưu Minh T có đăng ký hộ khẩu tại thôn Tam Tân, xã Tân Tiến, thị xã L và vẫn còn sinh sống tại địa phương; Xác minh về tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông T: Quá trình chung sống bà N và ông T thường xảy ra mâu thuẫn, hiện nay đã không còn sống chung với nhau. Nguyên nhân do ông T còn ham chơi, có sử dụng ma túy.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã L và quan hệ pháp luật tranh chấp Tòa án xác định là đúng, Tòa án đưa vụ án ra xét xử phù hợp với quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử và thời hạn đưa vụ án ra xét xử; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự và quá trình xét xử vụ án Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhận thấy yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng Hồng N là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N, cho bà N được ly hôn ông Tân; Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Hoàng Hồng N được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung: Lưu Thanh N, sinh ngày 13/5/2018 và Lưu Quang K, sinh ngày 08/01/2021; Bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu; Về án phí: Bà N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Xét yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Hoàng Hồng N là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; Bị đơn ông Lưu Minh T có đăng ký hộ khẩu tại thôn Tam Tân, xã Tân Tiến, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã L, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn ông Lưu Minh T vắng mặt không lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
3.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Hoàng Hồng N và ông Lưu Minh T tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Tân Tiến, thị xã L cấp giấy chứng nhận kết hôn số 30 ngày 10/4/2017, vì vậy hôn nhân của ông bà là hợp pháp kể từ khi đăng ký kết hôn.
Quá trình giải quyết vụ án, bà N vẫn một mực kiên quyết yêu cầu ly hôn ông T vì thực tế bà đã tìm nhiều cách hàn gắn hạnh phúc nhưng không có kết quả; Về phía bị đơn ông Lưu Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng ông T không đến Tòa làm việc và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án và tại phiên tòa hôm nay vắng mặt không lý do. Qua đó cho thấy ông T bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình.
Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng giữa vợ chồng bà N, ông T thì mạnh ai nấy sống. Hơn nữa, Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay giữa bà N và ông T đã không còn sống chung, không còn quan tâm, chăm sóc hay chia sẽ những buồn vui trong cuộc sống nữa, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Qua xác minh của địa phương thì bà N và ông T sống chung có xảy ra mâu thuẫn. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Hoàng Hồng N là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3.2. Về con chung: Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung: Lưu Thanh N, sinh ngày 13/5/2018 và Lưu Quang K, sinh ngày 08/01/2021. Hiện nay bà N đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 con và đảm bảo việc nuôi dạy các con. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất về mọi mặt của các cháu đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, Hội đồng xét xử sẽ giao cho bà N được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung: Lưu Thanh N, sinh ngày 13/5/2018 và Lưu Quang K, sinh ngày 08/01/2021 là phù hợp theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, cho nên Hội đồng xét xử đã giải thích việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con, nhưng bà N không yêu cầu. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
3.4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 51, 53, 54, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Hoàng Hồng N được ly hôn ông Lưu Minh T.
2. Về nuôi con chung:
Giao cho bà Nguyễn Hoàng Hồng N được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung: Lưu Thanh N (Giới tính: Nữ), sinh ngày 13/5/2018 và Lưu Quang K (Giới tính: Nam), sinh ngày 08/01/2021.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu giải quyết.
5. Về án phí: Bà Nguyễn Hoàng Hồng N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0012989 ngày 15/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L, bà N đã nộp đủ án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, báo cho bà N biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/3/2023). Riêng bị đơn ông Lưu Minh T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND thị xã L; - THADS thị xã L; - UBND xã Tân Tiến; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Vũ Toàn |