vanban.org

Bản án 11/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị B ly hôn anh Vũ Đình G.

Về con chung: Giao con chung Vũ Lê Trà M- sinh ngày 28/10/2009, Vũ Lê Phƣơng T- sinh ngày 11/9/2011 cho chị Lê Thị B tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi các con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Anh Vũ Đình G không phải cấp dƣỡng nuôi con chung vì chị B không yêu cầu và anh G đƣợc quyền thăm nom,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị B và Vũ Đình G"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị B ly hôn anh Vũ Đình G.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29/3/2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Bách.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hoa và ông Nguyễn Văn Bạn.

- Thư ký phiên toà: Bà Mạc Thị Thủy- Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Lệ- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 07/2023/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 01 năm 2023, về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn. Theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/3/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 05 ngày 17/3/2023, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị B, sinh năm 1988.

Địa chỉ: KDC Đ, phƣờng A, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.

Vắng mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Vũ Đình G, sinh năm 1981.

Địa chỉ: KDC Đ, phƣờng A, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, Biên bản ghi lời khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, nguyên đơn chị Lê Thị B trình bày: Chị Lê Thị B anh Vũ Đình G ngƣời cùng quê, đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, tổ chức đăng ký tại UBND xã A (nay là phƣờng A) ngày 08/3/2007. Sau ngày cƣới chị B về nhà anh G chung sống. Đến năm 2013 cả hai vợ chồng cùng đi lao động tại Đài Loan. Tại Đài Loan do điều kiện làm việc và sinh hoạt khác biệt vì vậy vợ chồng đã nảy sinh mâu thuẫn. Năm 2017 thì anh G về nƣớc và hai bên ly thân nhau từ đó đến nay. Đến giữa năm 2022 chị B về nƣớc nhƣng vợ chồng không sống cùng nhau. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên chị B xin đƣợc ly hôn với anh Vũ Đình G. Khi làm thủ tục ly hôn và hòa giải tại Tòa án anh G biết không đến Tòa án làm việc nên không thể hòa giải đƣợc, sau khi Tòa án thụ lý vụ án thì anh Giới lại bỏ đi, giấu địa chỉ cố tình gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Vũ Lê Trà M- sinh ngày 28/10/2009, Vũ Lê Phƣơng T- sinh ngày 11/9/2011. Hiện con chung đang ở với chị B. Khi ly hôn nguyện vọng chị B xin đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng và tự nguyện không yêu cầu anh G cấp dƣỡng nuôi con. Vì thực tế con ở với gia đình bên ngoại từ năm 2013 đến nay. Năm 2017 anh G về nƣớc cũng không đón các con về sống cùng.

Về quan hệ tài sản, vay nợ, công sức chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do anh G không đến Tòa án làm việc, gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án nên chị B có đơn đề nghị Tòa án tiến hành xác minh thu thập tài liệu chứng cứ, sớm đƣa vụ án ra xét xử.

Bị đơn anh Vũ Đình G đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhƣng cố ý không đến Tòa án làm việc, không có quan điểm và ý kiến đối với vụ án nên Tòa án đã tống đạt cho ngƣời thân thích của anh G là ông Vũ Đức C- bố đẻ anh G nhận thay các văn bản tố tụng theo quy định.

Theo Công văn số 3377/QLXNC-P5 ngày 24/3/2023 của Cục quản lý xuất nhập cảnh- Bộ Công an: Xác định anh Vũ Đình G- sinh năm 1981; CMND số xxxxxxxxxxxx sử dụng hộ chiếu số xxxxxxxx để xuất cảnh ngày 17/3/2023 qua cửa khẩu Mộc Bài, hiện chƣa có thông tin nhập cảnh.

Chính quyền địa phƣơng khu dân cƣ Đ, phƣờng A đều xác định: chị Lê Thị B và anh Vũ Đình G đăng ký kết hôn tại UBND xã A (nay là phƣờng A) ngày 18/6/2016, đăng ký hộ khẩu ở khu dân cƣ Đ, phƣờng A sống làm nhà ở trên đất của gia đình anh G. Sau đó vợ chồng đi lao động tại nƣớc ngoài năm 2013, năm 2017 anh G về nƣớc, còn chị B thì giữa năm 2022 mới về nƣớc nhƣng chị B về nhà đẻ sống còn anh G sống tại nhà đất của vợ chồng nhƣng đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới có mặt ở nhà.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 09/02/2023 cháu Vũ Lê Trà M và Vũ Lê Phƣơng T trình bày nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn thì nguyện vọng muốn đƣợc tiếp tục ở với chị B và gia đình bên ngoại.

Ngƣời làm chứng ông Vũ Đức C (bố đẻ anh G, bố chồng chị B) trình bày: Anh G và chị B đều đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, tổ chức đăng ký tại UBND xã A (nay là phƣờng A) ngày 08/3/2007. Sau khi cƣới chị B về nhà ông sống chung cùng anh G. Đến năm 2013 cả hai vợ chồng đi lao động tại nƣớc ngoài, năm 2017 anh G về nƣớc con chị B đến giữa năm 2022 mới về nƣớc thì về luôn nhà đẻ ở cùng khu sống và nay làm thủ tục ly hôn. Tâm tƣ nguyện vọng những ngƣời làm cha mẹ nhƣ ông không muốn các con ly hôn. Việc ly hôn là quyền của chị B và anh G.

Vợ chồng chị B anh G có 02 con chung là Vũ Lê Trà M- sinh ngày 28/10/2009, Vũ Lê Phƣơng T- sinh ngày 11/9/2011. Hiện con chung đang ở với chị B và gia đình bên ngoại. Do hai bên gia đình nhà cùng khu dân cƣ nên Tết nhất các cháu vẫn về qua nhà. Việc nuôi con là thỏa thuận giữa chị B với anh G và nguyện vọng của các cháu, thực tế nhà đất gần nhà tôi là của các cháu.

Ngƣời làm chứng bà Dƣơng Thị H (là mẹ đẻ chị B, mẹ vợ anh G) trình bày: Năm 2013 khi chị B và anh G cùng đi lao động ở nƣớc ngoài thì các cháu Vũ Lê Trà M và Vũ Lê Phƣơng T về sống tại nhà bà. Năm 2017 khi anh G về nƣớc sống ở nhà nhƣng không đón con về ở cùng. Điều kiện ăn ở sinh hoạt của gia đình bà đảm bảo cho chị B và các con ăn ở sinh hoạt. Nếu chị B đƣợc giao nuôi con bà cam kết hỗ trợ để chị B cùng các con ăn ở, sinh hoạt, học tập tốt nhất có thể.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn chị Lê Thị B có đơn xin xử vắng mặt.

Bị đơn anh Vũ Đình G vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh bày tỏ quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký tòa án trong quá trình thu thập chứng cứ, tiến hành tố tụng tại phiên toà đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đƣơng sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng. Về đƣờng lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228: Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử cho chị Lê Thị B ly hôn anh Vũ Đình G. Giao con chung Vũ Lê Trà M- sinh ngày 28/10/2009, Vũ Lê Phƣơng T- sinh ngày 11/9/2011 cho chị Lê Thị B tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi các con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Anh Vũ Đình G không phải cấp dƣỡng nuôi con chung vì chị B không yêu cầu và anh G đƣợc quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng con chung không ai đƣợc cản trở. Về tài sản, vay nợ, công sức: Không giải quyết. Về án phí: Buộc chị Lê Thị B chịu 300.000đ án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đƣơng sự, ngƣời làm chứng đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

1.1. Bị đơn anh Vũ Đình G đăng ký hộ khẩu thƣờng trú và cƣ trú tại khu dân cƣ Đ, phƣờng A, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng; tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án còn đang cƣ trú tại Việt Nam, đến ngày 17/3/2023 mới xuất cảnh ra nƣớc ngoài nên vụ án vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng theo quy định tại điểm điểm a khoản 1 Điều 35; a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và hƣớng dẫn tại Công văn 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao.

1.2. Nguyên đơn, bị đơn, ngƣời tham gia tố tụng khác đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đƣa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập đến tham gia tố tụng tại phiên tòa hợp lệ.

Bị đơn anh Vũ Đình G vắng mặt tại nơi cƣ trú xuất cảnh đi nƣớc ngoài nhƣng không rõ địa chỉ; ngƣời thân thích đã nhận thay các văn bản tố tụng nên Tòa án giải quyết theo thủ tục chung. Mặc dù đã đƣợc triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhƣng vẫn vắng mặt tại phiên tòa; Nguyên đơn chị Lê Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đƣơng sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị B và anh Vũ Đình G đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, tổ chức đăng ký tại UBND xã A (nay là phƣờng A) ngày 08/3/2007 nên là hôn nhân hợp pháp.

Xem xét về quá trình chung sống, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị B và anh G thấy rằng: Vợ chồng kết hôn năm 2007, đến năm 2013 cả hai khi đi lao động ở nƣớc ngoài cũng nhƣ khi về nƣớc đã có mâu thuẫn, sống ly thân không còn hạnh phúc. Quan hệ hôn nhân giữa chị B và anh G không thể hiện sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình đã vi phạm ngh a vụ vợ chồng; làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Do vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị B xin ly hôn với anh Vũ Đình G.

Về con chung: Xác định các cháu Vũ Lê Trà M- sinh ngày 28/10/2009, Vũ Lê Phƣơng T- sinh ngày 11/9/2011 là con chung của chị Lê Thị B và anh Vũ Đình G, hiện các cháu đang sống ổn định cùng chị B. Khi ly hôn nguyện vọng của chị B đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng cả 02 con chung và không yêu cầu anh G cấp dƣỡng nuôi con chung cùng chị; anh Vũ Đình G vắng mặt, không có quan điểm; các cháu M và T đều có nguyện vọng muốn ở cùng chị B. Vì vậy, cần giao cho chị B tiếp tục nuôi dƣỡng 02 con chung đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Anh Vũ Đình G không phải cấp dƣỡng nuôi con chung vì chị B không yêu cầu và anh G đƣợc quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng con chung không ai đƣợc cản trở là phù hợp theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản, vay nợ, công sức chung: Nguyên đơn chị Lê Thị B không yêu cầu giải quyết; bị đơn anh Vũ Đình G không có quan điểm nên không phải giải quyết.

Về án phí: Chị Lê Thị B là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị B ly hôn anh Vũ Đình G.

2. Về con chung: Giao con chung Vũ Lê Trà M- sinh ngày 28/10/2009, Vũ Lê Phƣơng T- sinh ngày 11/9/2011 cho chị Lê Thị B tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi các con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Anh Vũ Đình G không phải cấp dƣỡng nuôi con chung vì chị B không yêu cầu và anh G đƣợc quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng con chung không ai đƣợc cản trở.

3. Về tài sản, vay nợ, công sức: Không giải quyết.

4. Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000đ, đƣợc trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2020/0003241 ngày 17/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng, chị B đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết./.

Cỡ chữ