vanban.org

Bản án 11/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn ly hôn của chị Nguyễn Thị Hải Yến đối với anh Phạm Văn

Về con chung: Anh chị có 02 con chung, cháu lớn là Phạm Gia Bảo, sinh Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con đối với anh Quang Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn ly hôn của chị Nguyễn Thị Hải Yến đối với anh Phạm Văn
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 09/01/2023
V/v Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đắc Tiến

Ông Đỗ Gia Ánh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đỗ Kỳ Anh - Cán bộ Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Ông Dương Tiến Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 09/01/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 436/TL-HNGĐ ngày 04/10/2022, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 283/2022/QĐXX-ST ngày 07/12/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 309/QĐST-HPT ngày 20/12/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hải Yến, sinh năm 1990.

HKTT: TDP Tó, Phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội.

Nơi ở: Số 2, ngõ 159/15 đường Hữu Hưng, TDP Tó, Phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội. (Có mặt)

Bị đơn: Anh Phạm Văn Quang, sinh năm 1989.

HKTT: TDP Tó, Phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội.

Nơi ở: Số 4 ngõ 159/15 đường Hữu Hưng, TDP Tó, Phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn trình bày:

- Về tình cảm: Chị và anh Phạm Văn Quang tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội vào ngày 24/08/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị về sống tại địa chỉ số 4, ngõ 259/15 đường Hữu Hưng, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội. Trong quá trình chung sống, anh chị sống hạnh phúc được 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Quang thường xuyên uống rượu dẫn đến say sỉn, không quan tâm và không có trách nhiệm đối với vợ con. anh chị đã sống ly thân mỗi người một nhà, chị Yến sống tại số 2, ngõ 159/15 đường Hữu Hưng, TDP Tó, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội. Anh Quang sống tại số 4 ngõ 159/15 đường Hữu Hưng, TDP Tó, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội.

Chị Yến xác định không còn tình cảm với anh Quang, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị Yến và anh Quang có 02 con chung là Phạm Gia Bảo, sinh ngày 11/2/2011 và Phạm Gia An sinh ngày 08/03/2015. Hiện nay cả hai cháu đều đang sống cùng nhà với chị Yến.

Sau ly hôn, chị Yến có nguyện vọng được nuôi cả 02 con, vì anh Quang không thể nuôi được các cháu do không có việc làm và không có thu nhập ổn định, bản thân là người nghiện rượu gây ảnh hưởng đến đời sống của trẻ nhỏ. Chị Yến đang là điều dưỡng tại Viện dưỡng lão ALH, thu nhập là 10.000.000 đồng/tháng. Địa chỉ mà chị Yến đang sinh sống là nhà đất của bố mẹ đẻ cho chị và các con sinh sống tại đây, bố mẹ chị Yến có thể hỗ trợ về thời gian và kinh tế cho chị Yến chăm sóc các cháu.

Về cấp dưỡng: Chị Yến không yêu cầu anh Quang cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Yến, anh Quang không có, không yêu cầu tòa án giải quyết

Về nợ chung: Chị Yến, anh Quang không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Quang đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ, Thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ nhưng anh Quang đều vắng mặt cũng như không đưa ra quan điểm hay tài liệu gì về yêu cầu ly hôn của chị Yến.

Tại phiên toà:

Chị Yến giữ nguyên các ý kiến đã trình bày trước đây.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm phát biểu ý kiến: qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm đưa vụ án ra xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của mình và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Điều 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.

Đề nghị:

- Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hải Yến đối với anh Phạm Văn Quang.

-Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Phạm Gia Bảo, sinh ngày 11/2/2011 và Phạm Gia An sinh ngày 08/03/2015. Giao cả 02 con chung cho chị Yến trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 01/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi dưỡng cho anh Quang đến khi có sự thay đổi khác.

Anh Quang được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

-Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xét.

-Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xét.

-Về án phí: Chị Yến phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định.

* Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị Hải Yến và anh Phạm Văn Quang có đăng ký kết hôn tại UBND phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội vào ngày 24/08/2010 trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu. Do đó đây là hôn nhân hợp pháp. Anh Quang có HKTT và nơi cư trú thường xuyên tại số 4 ngõ 159/15 đường Hữu Hưng, TDP Tó, Phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội nên yêu cầu của chị Yến thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Trong quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt, triệu tập hợp lệ đối với anh Quang nhưng anh Quang vắng mặt không có lý do, không có quan điểm về nội dung vụ án, Tòa án không lấy được lời khai của anh Quang. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh Quang.

* Về nội dung:

- Về tình cảm: Chị Yến xác định chị và anh Quang đã ly thân từ khoảng tháng 8/2019 cho đến nay. Hiện chị Yến đang sinh sống tại số 2, ngõ 159/15 đường Hữu Hưng, TDP Tó, Phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội. Anh Quang đang sinh sống tại số 4 ngõ 159/15 đường Hữu Hưng, TDP Tó, Phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội. Tòa án đã nhiều lần gửi giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ ngày 01/11/2022 và ngày 16/11/2022 để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh Quang đều vắng mặt nên tòa án không tiến hành lấy lời khai cũng như tiến hành việc kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được. Anh Quang cũng không cung cấp các tài liệu chứng cứ nào cho Tòa án.

Ngày 17/10/2022, Tòa án xác minh với chính quyền địa phương về tình trạng hôn nhân của anh chị được cung cấp: Chị Yến và anh Quang kết hôn vào năm 2010. Sau khi kết hôn anh chị về sống số 4, ngõ 159/15 đường Hữu Hưng, TDP Tó, Phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội. Trong quá trình sinh sống tại địa phương chính quyền không thấy vợ chồng chị Yến báo cáo vợ chồng có mâu thuẫn nên chính quyền không nắm được. Nay chị Yến có đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Xét thấy trong cuộc sống, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình nhưng giữa chị Yến, anh Quang không có được điều này mà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, dẫn đến bất đồng quan điểm sống, anh Quang còn là người nghiện rượu, không quan tâm, vun vén hạnh phúc gia đình, cùng nhau chăm sóc con cái, không quan tâm đến vợ con, khiến hạnh phúc gia đình ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Đó là nguyên nhân dẫn đến việc anh chị sống ly thân từ tháng 8/2019. Tòa án đã nhiều lần mời chị Yến lên Tòa để trao đổi hòa giải nhưng chị Yến giữ nguyên quan điểm ly hôn và xác định không còn tình cảm với anh Quang. Trong quá trình giải quyết, Tòa án triệu tập anh Quang nhiều lần để hòa giải nhưng anh Quang không hợp tác, đều vắng mặt. Điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chi Yến xin ly hôn anh Quang là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật cần được chấp nhận.

- Về con chung: Chị Yến và anh Quang có 02 con chung là Phạm Gia Bảo, sinh ngày 11/2/2011 và Phạm Gia An sinh ngày 08/03/2015.

Hiện nay chị Yến đang làm điều dưỡng tại Trung tâm chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Lotus Care thuộc Công ty CP đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo toàn cầu. Tổng thu nhập là 10.000.000 đồng/tháng. Có xác nhận của Trung tâm chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Lotus Care.

Chị Yến có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống ổn định tại nhà đất số 2, ngõ 159/15 đường Hữu Hưng, TDP Tó, Phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội.

Tại Đơn trình bày ngày 08/9/2022 của ông Nguyễn Phú Minh và bà Nguyễn Thị Thu Hương là bố mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị Hải Yến. Ông bà đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Yến ly hôn vì không hàn gắn được và sau ly hôn ông bà tạo điều kiện cho chị Yến ở tại nhà của ông bà tại số 2, ngõ 159/15 đường Hữu Hưng, TDP Tó, Phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội và dành thời gian chăm sóc các cháu giúp chị Yến khi chị Yến bận công việc.

Xét thấy, Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”

Trong bản tự khai của cháu Phạm Gia Bảo và Phạm Gia An, là 02 con chung của anh Quang, chị Yến có ý kiến sau khi bố mẹ ly hôn cả 02 cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ Yến.

Do đó, chị Yến có đủ các điều kiện để nuôi dưỡng cả 02 con chung. Nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung của chị Yến là phù hợp cần được chấp nhận.

Giao cả 02 con chung cho chị Yến trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 01/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con cho anh Quang khi có sự thay đổi khác.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Yến phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí.

Xử:

- Chấp nhận đơn ly hôn của chị Nguyễn Thị Hải Yến đối với anh Phạm Văn Quang. Chị Nguyễn Thị Hải Yến được ly hôn anh Phạm Văn Quang.

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung, cháu lớn là Phạm Gia Bảo, sinh ngày 11/2/2011, cháu nhỏ là Phạm Gia An sinh ngày 08/03/2015. Giao cả 02 con chung cho chị Yến trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 01/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con đối với anh Quang khi có sự thay đổi khác.

Anh Quang được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết, nên không xét.

- Về án phí: Chị Yến phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai số 0034654 ngày 27/09/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, được chuyển thành án phí.

Án xử công khai sơ thẩm đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ