vanban.org

Bản án 11/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Đ.

Án phí: Anh Nguyễn Văn Đ phải nộp án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000đ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số AA/2021/0006511 ngày 24/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô. Án xử công khai sơ thẩm, Anh Đ được quyền kháng cáo bản á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Đ; Bị đơn: Chị Vũ Thị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Đ.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN YÊN MÔ – TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 11/2023/ HNGĐ - ST
Ngày 31/8/2023
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ – TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Toan

Bà Trần Thị Mão

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Mô

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô tham gia phiên toà: Bà Giang Thị Quỳnh Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 76/2023/TLST – HNGĐ ngày 24/5/2023 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 04/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2023/HNGĐ - QĐ ngày 18 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1986

Địa chỉ: Xóm B xã N, huyện Y, tỉnh Hoà Bình.

Bị đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1992;

Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa có mặt anh Đ, vắng mặt chị H (không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai và tại phiên tòa anh Nguyễn Văn Đ trình bày: Anh kết hôn với chị Vũ Thị H được tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình vào ngày 16/10/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 20 ngày thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị H hay nói dối anh và gia đình, nhiều lần chị H dẫn bạn trai về nhà nói dối là anh em họ hàng. Anh và gia đình khuyên bảo nhưng chị H không nghe vẫn tiếp tục quan hệ với người đàn ông khác và nói dối anh nên anh đã đuổi chị H về nhà bố mẹ đẻ từ tháng 11 năm 2018 và cũng từ đó đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân, không quan tâm đến cuộc sống nhau. Đến nay anh Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồn đã trầm trọng không thể hàn gắn được nên anh đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Vũ Thị H.

- Về con chung: Anh và chị H không có con chung.

- Về tài sản chung và công nợ: Anh và chị H không có tài sản chung, không có công nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý và giấy triệu tập chị Vũ Thị H theo địa chỉ chị H đăng ký nhân khẩu thường trú và cư trú, bố chị H là ông Vũ Văn Sỹ đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo lại cho chị H nhưng chị H đều không đến Tòa án làm việc. Tại biên bản làm việc với ông Vũ Văn Sỹ thể hiện: anh Đ và chị H có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ngọc Lương, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình vào năm 2018. Sau khi kết hôn anh Đ chị H sống cùng gia đình anh Đ được khoảng 20 ngày thì anh Đ đánh chị H phải nằm viện, sau đó chị H bỏ về chung sống cùng gia đình ông và cũng từ đó đến nay anh Đ, chị H không chung sống cùng nhau. Đến nay anh Đ xin ly hôn chị H quan điểm của gia đình là do anh Đ chị H sống ly thân đã lâu không còn quan tâm đến nhau đề nghị Tòa án giải quyết theo qui định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm HĐXX nghị án, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng; chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời gian theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn anh H chấp hành đúng pháp luật; bị đơn chị Vũ Thị H không chấp hành các qui định về tố tụng dân sự, không có mặt tại Tòa án để làm việc và trình bày quan điểm của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của anh Đ. Toà án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng chị H vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy Toà án nhân dân huyện Yên Mô tiến hành xét xử vắng mặt chị H là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử: Anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn chị Vũ Thị H.

Về án phí ly hôn: Anh Đ phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và yêu cầu của đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện của anh Nguyễn Văn Đ bị đơn là chị Vũ Thị H có đăng ký nhân khẩu thường trú tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Do vậy Tòa án nhân dân huyện Y thụ lý giải quyết vụ án là đúng qui định tại Điều 28 và 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là chị Vũ Thị H đã được Tòa án báo gọi nhiều lần nhưng chị H không đến Tòa án để làm việc; không trình bày quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh Đ. Tòa án nhân dân huyện Yên Mô đã tống đạt hợp lệ hai lần giấy triệu tập chị Vũ Thị H đến tham gia phiên tòa nhưng chị H vẫn không có mặt tại phiên tòa. Do vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Vũ Thị H là phù hợp với Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Vũ Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 16/10/2018 tại UBND xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn anh Đ chị H chung sống hạnh phúc được 20 ngày thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm sống của anh chị không hợp nhau, chị H hay nói dối và đưa bạn trai về nhà nên Đ đã đánh và đuổi chị H. Tháng 11/2018 chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại xã Y, huyện Y sinh sống và cũng từ đó anh Đ và chị H sống ly thân, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Quá trình làm việc với ông Vũ Văn Sỹ là bố đẻ chị H cũng xác định anh Đ và chị H chung sống với nhau được 20 ngày thì phát sinh mâu thuẫn, do anh Đ đánh chị H nên chị H bỏ về chung sống cùng gia đình ông và cũng từ đó anh Đ, chị H không chung sống cùng nhau. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh Đ và chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận đơn khởi kiện của anh Đ xử cho anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn với chị Vũ Thị H là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Vũ Thị H không có con chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ: Anh Nguyễn Văn Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh Đ phải nộp án phí ly hôn theo qui định của pháp luật

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 – Đều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Đ. Xử, anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn chị Vũ Thị H. Quan hệ hôn nhân của anh Nguyễn Văn Đ và chị Vũ Thị H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Án phí: Anh Nguyễn Văn Đ phải nộp án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000đ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số AA/2021/0006511 ngày 24/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô.

Án xử công khai sơ thẩm, Anh Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; chị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ