- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thi X- Lò Văn C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho nguyên đơn chị Lò Thị X được ly hôn với bị đơn anh Lò Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN B Bản án số: 11/2023/HNGĐ-ST Ngày 07-3-2023 "V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn " |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN G, TỈNH ĐIỆN B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình H
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng D
Bà Lê Thị Thanh Th
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị L, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần G, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ch - Kiểm sát viên.
Ngày 07/03/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần G, tỉnh Điện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2022/TLST - HNGĐ ngày 04/10/2022 về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 01/02/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2023/QĐST-DS ngày 17/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuần G giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị X, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Bản B, xã Ẳng T, huyện Mường T, tỉnh Điện B, có mặt.
2. Bị đơn: Anh Lò Văn C, sinh năm 1990
Địa chỉ: Bản Vánh T (Nay là bản V, xã Chiềng Đ, huyện Tuần G, tỉnh Điện B.
Anh C vắng mặt lần 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 03/10/2022, bản tự khai, biên bản lấy lời khai nguyên đơn chị Lò Thị X trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lò Văn C lấy nhau có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T T, huyện Mường T, tỉnh Điện B vào ngày 14/8/2012. Hôn nhân là tự nguyện không ai bị lừa dối, ép buộc. Quá trình chung sống hạnh phúc được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Anh C còn đi ngoại tình với người phụ nữ khác khiến đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Mâu thuẫn giữa vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không thành. Từ tháng 9 năm 2013, chị X đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại bản B, xã Ẳng T, huyện Mường T và sinh sống từ đó cho đến nay. Từ đó đến nay anh, chị không quan tâm gì đến nhau nữa. Xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Lò Văn C.
Về quan hệ con chung: Chị X và anh C có 01 con chung: Cháu Lò Thu H, sinh ngày 26/7/2013, hiện cháu đang ở với chị X. Khi ly hôn chị X có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu H đến tuổi thành niên và có khả năng lao động, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.
Về con riêng: Chị có 01 con riêng là Lò Văn G, sinh ngày 14/01/2017, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về quan hệ tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, trả nợ lấy về: chị Xuân không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án ngày 04/10/2022, Tòa án đã tiến hành xác minh nơi cư trú của anh C, mặc dù có đăng ký thường trú và sinh sống cùng mẹ đẻ tại bản Vánh (Nay là bản V), xã Chiềng Đ, huyện Tuần G song từ khi vợ chồng ly thân anh C thường đi làm ăn xa nhà, thỉnh thoảng mới về, không báo cho gia đình với địa phương nên gia đình và địa phương không nắm rõ anh C làm gì và cụ thể ở đâu nên không thể tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho anh C. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.
Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết các văn bản tố tụng anh C vẫn không có mặt nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện. Ngày 10/11/2022, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự song anh C vắng mặt không có lý do, Tòa án đã lập biên bản về sự vắng mặt không có lý do của anh C và tiến hành niêm yết thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định của pháp luật. Ngày 10/11/2022, chị Lò Thị X đã có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nữa, đề nghị Tòa án xét xử vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 17/02/2022, Tòa án nhân dân huyện Tuần G mở phiên tòa xét xử theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/02/2023 và đã niêm yết theo quy định của pháp luật, anh Cương v mặt lần thứ nhất không có lý do, Tòa án đã hoãn phiên tòa theo luật định.
Tại phiên tòa ngày 07/3/2023, chị X vẫn giữ nguyên quan điểm như trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai. Anh Lò Văn C vắng mặt lần 2 không có lý do.
Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật: Về thẩm quyền và trình tự thủ tục Thẩm phán, thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân chấp nhận cho nguyên đơn chị Lò Thị X được ly hôn với bị đơn anh Lò Văn C theo Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình. Về con chung: Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân gia đình: Giao cháu Lò Thu H, sinh ngày 26/7/2013 cho chị Lò Thị X chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Lò Thị X là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc diện được miễn án phí và có đơn xin được miễn án phí, đề nghị HĐXX miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị X.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo và địa chỉ của các đương sự, Tòa án xác định đây là vụ án: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuần G theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố Tụng dân sự.
. Về pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án: Chị Lò Thị X và anh Lò Văn C kết hôn ngày 14/8/2012, đến thời điểm giải quyết, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đang có hiệu lực, do vậy Tòa án sẽ áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
. Về việc hoãn phiên tòa: Ngày 17/02/2023, Tòa án nhân dân huyện Tuần G đã tiến hành mở phiên tòa xét xử vụ án song bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Khoản 1 Điều 227, Điều 233, Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa.
Về quan hệ hôn nhân: Chị X và anh C lấy nhau có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các biện pháp xác minh tình trạng hôn nhân, tống đạt bằng hình thức niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh C song anh C vẫn không có mặt tại Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự theo Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Anh C không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị X, vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, đã thể hiện ý thức không chấp hành pháp luật, vi phạm các quyền và nghĩa vụ của đương sự theo điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Anh C đã tự từ bỏ các quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình. Ngày 10/11/2022, Chị X có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải lần 2. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo Điều 207 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân hồi 09 giờ ngày 05/10/2022 tại bản V, xã Chiềng Đ, huyện Tuần G và biên bản xác minh hồi 10 giờ 10 phút ngày 05/10/2022 tại gia đình anh Lò Văn C thể hiện về nguyên nhân mâu thuẫn do anh C ngoại tình với người phụ nữ khác cùng với quan điểm sống bất đồng nên anh chị đã ly thân từ tháng 9 năm 2013, chị X không quay về sống cùng anh C nữa.
HĐXX xét thấy: Mặc dù anh C không có mặt tại Tòa án để thể hiện ý kiến quan điểm của mình về quan hệ hôn nhân, nhưng qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua quá trình Tòa án thu thập chứng cứ xác minh tình trạng hôn nhân, đủ cơ sở khẳng định nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm sống bất đồng, anh Cương còn ngoại tình với người phụ nữ khác khiến hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng là có thật và đúng như lời khai của chị X. Mục đích hôn nhân là vợ chồng gần gũi, thương yêu chăm sóc, quý trọng giúp đỡ lẫn nhau không có, quan hệ hôn nhân đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị X xin ly hôn với anh C cần được chấp nhận theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Xét nguyện vọng về con chung: Anh C, chị X có 01 con chung: Cháu Lò Thu H, sinh ngày 26/7/2013, hiện cháu đang ở với chị tại bản B, xã Ẳng T, huyện Mường T, chị X có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu đến tuổi thành niên, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung. Chị X hiện ở cùng bố mẹ đẻ, thu nhập vừa làm ruộng vừa làm thuê có đủ khả năng nuôi dưỡng con chung, anh C cũng đi làm thuê song gia đình và địa phương không nắm rõ anh C làm việc ở đâu, thu nhập như thế nào. Do anh C không có mặt tại Tòa án để thể hiện quan điểm, nguyện vọng về phần nuôi con chung, anh C đã tự từ bỏ các quyền của mình. HĐXX căn cứ vào nguyện vọng và quyền lợi của cháu H xin được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn và khả năng chăm sóc nuôi dưỡng của chị X. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quyết định giao cháu Lò Thu H, sinh ngày 26/7/2013 cho chị X trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên và có khả năng lao động, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về con riêng: Chấp nhận việc chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.
. Về quan hệ tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, trả nợ lấy về: Chấp nhận việc chị Lò Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.
. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Lò Thị X là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc diện được miễn án phí, có đơn xin miễn án phí, HĐXX miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị X.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình:
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho nguyên đơn chị Lò Thị X được ly hôn với bị đơn anh Lò Văn C.
2. Về con chung: Giao cháu Lò Thu H, sinh ngày 26/7/2013 cho chị Lò Thị X trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên và có khả năng lao động, anh Lò Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về quan hệ tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về: Chị Lò Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí DSST: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị X.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Lò Thị X được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 07/3/2023; bị đơn anh Lò Văn C được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện B; - VKSND huyện Tuần G; - Chi cục THADS huyện TG; - UBND xã Ẳng Tở. H. (Nơi ĐKKH); - Đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Đình H |