- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa nguyên đơn: Chị Hồ Thị Tú A - bị đơn: Anh Lê Thành B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Tú A.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HNGĐ-ST Ngày: 18 – 01 – 2023 V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bạch Phiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Quang Vinh;
2. Bà Võ Thị Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhàn – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 300/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Tú A, sinh năm 1981. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Thành B, sinh năm 1983. Vắng mặt lần thứ hai, không rõ lý do.
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã D, huyện E, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hồ Thị Tú A trình bày:
Chị Hồ Thị Tú A và anh Lê Thành B chung sống với nhau có tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán tại dịa phương vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã F, huyện E, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 13/5/2011. Trước khi tổ chức đám cưới, anh chị có quen biết trước, tìm hiểu nhau khoảng 02 đến 03 năm. Việc anh chị kết hôn là tự nguyện, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối kết hôn.
Sau khi đám cưới, anh B thường xuyên uống rượu, không lo làm ăn, tiền kiếm được bao nhiêu đều tiêu xài cá nhân hết, không lo cho vợ con, nhậu về thường xuyên đánh đập chị Tú A, chị Tú A đã khuyên ngăn nhiều lần nhưng anh B không thay đổi. Chị Tú A và anh B đã ly thân được 04 năm. Hiện nay, chị Tú A không còn tình cảm vợ chồng với anh B.
Chị Tú A và anh B có 02 con chung tên Lê Hồ Đan G, sinh ngày 27/02/2005 và Lê Hồ Bảo H, sinh ngày 07/04/2011. Hiện nay 02 cháu đang sống với chị Tú A tại địa chỉ: ấp C, xã D, huyện E, tỉnh Đồng Tháp.
Chị Hồ Thị Tú A yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: Chị Hồ Thị Tú A yêu cầu ly hôn với anh Lê Thành B.
- Về con chung: Chị Hồ Thị Tú A yêu cầu được quyền nuôi dưỡng các cháu Lê Hồ Đan G, sinh ngày 27/02/2005 và Lê Hồ Bảo H, sinh ngày 07/04/2011 đến khi các cháu thành niên, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê Thành B không có ý kiến trình bày.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, cần phê phán rút kinh nghiệm.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Tú A: Cho chị Hồ Thị Tú A được ly hôn với anh Lê Thành B; Giao cháu Lê Hồ Đan G, sinh ngày 27/02/2005 và Lê Hồ Bảo H, sinh ngày 07/04/2011 cho chị Hồ Thị Tú A được quyền nuôi dưỡng đến khi các cháu thành niên; Anh Lê Thành B không phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung do chị Tú A không yêu cầu; Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
* Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm: Đơn khởi kiện ngày 20/7/2022 của chị Hồ Thị Tú A; Giấy chứng minh nhân (bản sao có chứng thực) và sổ hộ khẩu của có tên chị Hồ Thị Tú A; Trích lục kết hôn giữa chị Hồ Thị Tú A và anh Lê Thành B; Giấy khai sinh của cháu Lê Hồ Đan G và Lê Hồ Bảo H; Đơn xin xác nhận nơi cư trú của người bị kiện; Bản khai của cháu Lê Hồ Đan G và Lê Hồ Bảo H; Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 06/12/2022.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Theo yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Tú A và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Lê Thành B cư trú tại ấp C, xã D, huyện E, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Hồ Thị Tú A vắng mặt có đơn xin xử vắng mặt; bị đơn anh Lê Thành B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, không rõ lý do; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Tú A và anh B là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ, nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Hồ Thị Tú A và anh Lê Thành B đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện E, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 13/5/2011. Việc anh chị kết hôn là tự nguyện, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối kết hôn. Việc kết hôn giữa chị Hồ Thị Tú A và anh Lê Thành B là đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Theo trình bày của chị Tú A thì trong thời gian anh chị chung sống với nhau phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh B thường xuyên uống rượu, không lo làm ăn, tiền kiếm được bao nhiêu đều tiêu xài cá nhân hết, không lo cho vợ con, nhậu về thường xuyên đánh đập chị Tú A, chị Tú A đã khuyên ngăn nhiều lần nhưng anh B không thay đổi; anh chị đã ly thân được 04 năm, trong thời gian này, anh chị không có hàn gắn tình cảm với nhau; Hiện nay, chị Tú A không còn tình cảm vợ chồng với anh B. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh B không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu ly hôn của chị Tú A, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh B nhiều lần để hòa giải, nhưng anh B không đến Tòa án để hòa giải và trình bày ý kiến của mình. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; nhưng từ những phân tích trên cho thấy, anh chị đã không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Điều này chứng minh, hôn nhân giữa chị Tú A và anh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hồ Thị Tú A đối với anh Lê Thành B là phù hợp.
Về con chung: Chị Hồ Thị Tú A và anh Lê Thành B có 02 con chung tên Lê Hồ Đan G, sinh ngày 27/02/2005 và Lê Hồ Bảo H, sinh ngày 07/04/2011. Xét thấy, cháu G và cháu H có nguyện vọng được sống với chị Tú A; Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, anh B không có yêu cầu được quyền nuôi con. Vì vậy, để tránh việc thay đổi môi trường sống của các cháu, đảm bảo cho các cháu được phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần, tiếp tục giao cháu G và cháu H cho chị Tú A được quyền nuôi dưỡng đến khi các cháu thành niên là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con:
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Hồ Thị Tú A không yêu cầu anh Lê Thành B cấp dưỡng nuôi con 02 chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Tú A cho rằng anh chị tự thỏa thuận về tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Anh B không có ý kiến và yêu cầu về tài sản chung và nợ chung; Nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này; Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Chị Hồ Thị Tú A phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 69, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Tú A.
- Về hôn nhân: Chị Hồ Thị Tú A được ly hôn với anh Lê Thành B.
- Về con chung: Giao cháu Lê Hồ Đan G, sinh ngày 27/02/2005 và Lê Hồ Bảo H, sinh ngày 07/04/2011 cho chị Hồ Thị Tú A được quyền nuôi dưỡng đến khi các cháu thành niên.
Anh Lê Thành B không phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung, do chị Hồ Thị Tú A không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, chị Hồ Thị Tú A và anh Lê Thành B có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung; Anh Lê Thành B có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu Lê Hồ Đan G và Lê Hồ Bảo H, mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí:
Chị Hồ Thị Tú A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010494 ngày 17/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Chị Hồ Thị Tú A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Lê Thành B không phải chịu án phí.
Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Thanh Bình; - Chi cục THADS huyện Thanh Bình; - UBND xã D, huyện E, tỉnh Đồng Tháp (ĐKKH số 65, ngày 13/5/2011); - TAND tỉnh Đồng Tháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Bạch Phiến |