vanban.org

Bản án 11/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị S.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị S được ly hôn với ông Nguyễn Hải T. Về con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Hoàng Hải Đ, sinh ngày 07/02/2011 và Nguyễn Hoàng Hải Y, sinh ngày 02/10/2016 cho bà S tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo đến trưởng thành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BÀ NGUYỄN THỊ S TRANH CHẤP LY HÔN ÔNG NGUYỄN HẢI T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị S.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY SƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11/4/2023
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Nghị.

2. Bà Nguyễn Thị Diễm Chi.

-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Nữ - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa: Ông Trần Bình Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 432/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2022 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 03 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1987. Có mặt.

Địa chỉ: Xóm 11, thôn H, xã B, huyện S, tỉnh Bình Định.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hải T, sinh năm 1986. Vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa không rõ lý do.

Địa chỉ: Xóm 11, thôn H, xã B, huyện S, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Tại đơn khởi kiện ngày 02 tháng 12 năm 2022, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị S trình bày:

Bà và ông Nguyễn Hải T tự nguyện tìm hiểu nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục Việt Nam. Vợ chồng bà có đăng kí kết hôn vào ngày 12 tháng 10 năm 2009 tại UBND xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xảy ra tranh cãi. Từ tháng 01/2020, ông Triều có lái xe ở Phú Tài và từ đó ông không về nhà nữa. Bà cũng phát hiện được ông T có người phụ nữ khác bên ngoài, bà có hỏi ông và ông cũng đã thừa nhận vụ việc trên. Bà có nhiều lần khuyên và tha thứ cho ông T để ông quay về với cuộc sống gia đình, quay về với vợ con lo làm ăn nuôi dạy các con khôn lớn nhưng ông T vẫn nhất quyết sống chung với người phụ nữ khác mà không quay về nhà với vợ con. Nay tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không được hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01/2020 đến nay, tình cảm không còn nữa nên bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hải T.

-Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng Hải Đ, giới tính: Nam, sinh ngày 07/02/2011 và Nguyễn Hoàng Hải Y, giới tính: Nữ, sinh ngày 02/10/2016. Hiện hai con chung đang ở với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung đến trưởng thành và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

-Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Nguyễn Hải T vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Về các thủ tục giải quyết vụ án ly hôn đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, hòa giải, tiếp cận và công khai chứng cứ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có văn bản hoặc quan điểm gửi đến Tòa án; không cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Như vậy ông T không xem trọng cuộc hôn nhân giữa ông và bà S. Nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Theo biên bản xác minh ngày 06/12/2022 của của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, Công an xã B, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định cung cấp: Ông Nguyễn Hải T, sinh năm 1986, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại đội 11, thôn H, xã B,

2

huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Ông T làm nghề lái xe đường dài, thỉnh thoảng về nhà, chưa cắt khẩu, chuyển khẩu đi nơi khác..

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét từ khi Tòa thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật tố tụng của các đương sự đúng theo quy định.

Bị đơn ông Nguyễn Hải T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 147, 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Áp dụng các Điều 8, 9, 56,71, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị S. Về hôn nhân: Bà S được ly hôn ông Nguyễn Hải T. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hoàng Hải Đ, sinh ngày 07/02/2011 và Nguyễn Hoàng Hải Y, sinh ngày 02/10/2016 cho bà S tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến trưởng thành (con chung Nguyễn Hoàng Hải Đ có nguyện vọng ở với mẹ là bà Nguyễn Thị S); ông Nguyễn Hải T không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì bà S không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Bà S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là vụ án Hôn nhân và Gia đình khởi kiện ly hôn. Bị đơn ông Nguyễn Hải T có đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay xóm 11, thôn H, xã B, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Nguyễn Thị S có mặt; ông Nguyễn Hải T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

3

Về nội dung vụ án:

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Hải T là hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 12/10/2009 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xảy ra tranh cãi. Từ tháng 01/2020, Ông T đi làm lái xe ở Phú Tài và từ đó không về nhà với vợ con nữa, bà S cũng phát hiện ông T có tình cảm với người phụ nữa khác và ông T cũng đã thừa nhận vụ việc trên. Nay tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không được hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân.

Mặc dù ông Nguyễn Hải T đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập nhiều lần để làm việc, hòa giải tiếp cận và công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do. Việc ông T không đến Tòa làm việc, không có quan điểm gửi đến Tòa án chứng tỏ ông T không có trách nhiệm với hôn nhân của chính mình. Như vậy, có căn cứ xác định hôn nhân giữa bà S và ông T không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân thời gian dài; do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà S.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Nguyễn Hoàng Hải Đ (giới tính: Nam), sinh ngày 07/02/2011 và Nguyễn Hoàng Hải Y, giới tính: Nữ, sinh ngày 02/10/2016; hiện hai con chung đang ở với bà S. Khi ly hôn, bà S yêu cầu được tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung đến trưởng thành. Do đó, cần giao hai con chung Nguyễn Hoàng Hải Đ và Nguyễn Hoàng Hải Y cho bà S tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến trưởng thành là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014 (con chung Nguyễn Hoàng Hải Đ có nguyện vọng ở với mẹ là bà Trần Thị S).

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà S không yêu cầu nên miễn xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà S không yêu cầu nên miễn xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ vào quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị Quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội cần buộc bà Nguyễn Thị S phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào khoản tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007572 ngày 05/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; bà S đã nộp xong án phí.

4

Lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 273; Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;

Áp dụng các Điều 8, 9, 56, 71, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị S.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị S được ly hôn với ông Nguyễn Hải T.

- Về con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Hoàng Hải Đ, sinh ngày 07/02/2011 và Nguyễn Hoàng Hải Y, sinh ngày 02/10/2016 cho bà S tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo đến trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà S không yêu cầu nên miễn xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi đến thăm nom, chăm sóc, giúp đỡ con chung, không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị S phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào khoản tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007572 ngày 05/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; bà S đã nộp xong án phí.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

5

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại cấc Điều 6, 7 và 7 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ