- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Như T - Nguyễn Thị L - T/C ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Như T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HNGĐ-ST Ngày 02-3-2023 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Trí. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Di và ông Nguyễn Bá Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 274/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/01/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2023/QĐST-HNGĐ ngày 02/02/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Như T, sinh năm 1976 (vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1987 (vắng mặt không có lý do).
Địa chỉ: Tổ A khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản không hòa giải được tại tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Như T trình bày:
Ông Nguyễn Như T và bà Nguyễn Thị L tự nguyện chung sống vợ chồng với nhau từ năm 2011, có đăng ký kết hôn, tổ chức đám cưới. Đến năm 2021 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không còn hòa hợp như trước nên thường xuyên cãi nhau và đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay, mặc ai nấy sống (từ năm 2021 ông T đi làm thường hay ở lại Công ty nơi ông T làm việc, lâu lâu mới về nhà). Vợ chồng có nói chuyện hàn gắn tình cảm nhưng không được. Nay ông T nhận thấy không còn tình cảm, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và không thể chung sống với bà L được nữa. Vì vậy ông T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà L.
Về con chung: Ông T và bà L có 2 con chung là Nguyễn Như Phương T1, sinh ngày 17/12/2011 và Nguyễn Như Gia B, sinh ngày 19/11/2013. Ông T yêu cầu được nuôi cả 2 cháu cho đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về ý kiến của bị đơn bà Nguyễn Thị L: Trong quá trình tố tụng bà L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì.
- Theo Biên bản xác minh ngày 02/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền có nội dung như sau: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1987 có hộ khẩu thường trú tại Tổ A khu phố H, thị trấn L, huyện L và bà L vẫn đang thường xuyên sinh sống tại địa chỉ này. Lý do mâu thuẫn vợ chồng ông T, bà L thì khu phố không rõ.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T. Về con chung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông T, giao 2 con chung cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng và bà L không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Ông T và bà L không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà L tự nguyện chung sống, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Xét thấy, mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa ông T, bà L là có thật, vợ chồng không có sự đồng cảm, quan tâm, chia sẻ buồn vui cùng nhau, vợ chồng đã sống ly thân, không hàn gắn được, mặc ai nấy sống. Như vậy, quan hệ hôn nhân của ông T, bà L là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông T.
Về con chung: Ông T xác nhận có 2 con chung là Nguyễn Như Phương T1, sinh ngày 17/12/2011 và Nguyễn Như Gia B, sinh ngày 19/11/2013. Ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi cả 2 cháu và không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cả 2 cháu T1 và B đều có nguyện vọng ở với ông T, mặt khác bà L không đến Tòa án giải quyết việc ly hôn với ông T nên không biết nguyện vọng của bà L, nên chấp nhận yêu cầu của ông T, giao cả 2 cháu T1 và B cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông T và bà L không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Ông T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51; 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Như T.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Như T được ly hôn bà Nguyễn Thị L.
- Về con chung: Ông T, bà L có 2 con chung là Nguyễn Như Phương T1, sinh ngày 17/12/2011 và Nguyễn Như Gia B, sinh ngày 19/11/2013. Giao 2 con chung cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Bà L không phải cấp dưỡng nuôi con do ông T không yêu cầu.
Bà Nguyễn Thị L được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông T và bà L không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
2. Án phí: Áp dụng Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Ông Nguyễn Như T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 09103 ngày 11/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, ông T đã nộp xong.
3. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 02/3/2023), đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND huyện Long Điền; - THADS huyện Long Điền; - Các đương sự; - UBND thị trấn Long Hải, huyện Long Điền; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Hữu Trí |