- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thanh Đ và Nguyễn Thị O"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Thanh Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 11/2023/HNGĐ-ST Ngày 08-8-2023 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Nhi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quang Hiển; ông Phạm Đình Bông.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vi Thế Nam, là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Hữu – chức vụ Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 35/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2023, về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 60/QĐST-HNGĐ, ngày 26/7/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Thanh Đ, sinh năm 1989; Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Buôn K, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1993 – Vắng mặt.
Địa chỉ: Buôn K, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 04/4/2023 và quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Thanh Đ trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Thanh Đ và chị Nguyễn Thị O kết hôn năm 2013, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông trên tinh thần tự nguyện. Sau khi kết hôn anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, do tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không có sự thấu hiểu, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, anh Đ không còn tình cảm với chị O. Từ tháng 01 năm 2023 đến nay anh chị đã không còn chung sống với nhau. Hiện nay tình cảm yêu thương dành cho chị O không còn, anh Đ giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Oanh.
- Về con chung: Anh Đ và chị Nguyễn Thị O có 01 con chung là Trần Nguyên Bảo T, sinh ngày 30/10/2014. Anh Đ đồng ý giao con chung cho chị O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị O trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị O và anh Trần Thanh Đ kết hôn năm 2013, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông trên tinh thần tự nguyện. Chị O còn tình cảm với anh Đ, trước yêu cầu của anh Đ thì chị O không đồng ý ly hôn.
-Về con chung: Chị O và anh Trần Thanh Đ có 01 con chung là Trần Nguyên Bảo T, sinh ngày 30/10/2014. Trường hợp tòa án giải quyết ly hôn thì chị O có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Chị O không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị O không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX và Người tham gia tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án; tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ các trình tự thủ tục quy định; người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Thanh Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị O.
- Về nuôi con chung: Giao con chung là Trần Nguyên Bảo T, sinh ngày 30/10/2014 cho chị Nguyễn Thị O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Nguyễn Thị O không yêu cầu anh Trần Thanh Đ cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn anh Trần Thanh Đ và chị Nguyễn Thị O có các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, xác định không có nợ chung nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Buộc anh Trần Thanh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh Trần Thanh Đ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung. Do đó, quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn là chị Nguyễn Thị O có địa chỉ tại Buôn K, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyên Krông Nô theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Trần Thanh Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn chị Nguyễn Thị O đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh Đ, chị O.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Thanh Đ và chị Nguyễn Thị O kết hôn ngày 24/12/2013, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông, việc kết hôn của anh chị trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp, kết hôn đúng theo Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu ly hôn của anh Trần Thanh Đ, sau khi kết hôn vợ chồng anh Đ và chị O xảy ra nhiều mâu thuẫn do không hợp nhau, không cùng quan điểm sống, vợ chồng anh chị đã không còn sống chung với nhau từ tháng 01 năm 2023 đến nay. Quan hệ hôn nhân phải dựa trên tình cảm, tình yêu thương từ cả hai phía vợ, chồng; dựa trên sự bình đẳng, tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau. Anh Đ không còn tình cảm với chị O, vì vậy không đảm bảo được việc quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, chia sẽ với nhau những công việc gia đình và cùng nhau nuôi con chung trưởng thành. Hiện nay quan hệ hôn nhân không có khả năng hàn gắn, tình cảm yêu thương dành cho nhau không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Theo nội dung biên bản xác minh tại nơi anh Đ và chị O sinh sống thì chính quyền không nắm được vợ chồng anh Đ và chị O có mâu thuẫn hay không.
Tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình quy định về tình nghĩa vợ
chồng:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.
Tại điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình quy định:
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Như vậy, xét yêu cầu khởi kiện của anh Đ và quan điểm của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đối với nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật nên cần chấp nhận.
Về nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án các đương sự thừa nhận có 01 con chung là Trần Nguyên Bảo T, sinh ngày 30/10/2014. Anh Trần Thanh Đ đồng ý giao con chung cho chị Nguyễn Thị O nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Chị Nguyễn Thị O có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung là Trần Nguyên Bảo T đến tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con chị Nguyễn Thị O không yêu cầu anh Trần Thanh Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét nguyện vọng của chị O được nuôi con Trần Nguyên Bảo T. Quá trình giải quyết vụ án, anh Đ đồng ý giao con chung là Trần Nguyên Bảo T cho chị O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành, phù hợp với lời khai cháu Trần Nguyên Bảo T có nguyện vọng sống cùng chị O. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ áp dụng các điều 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình, giao con chung Trần Nguyên Bảo T, sinh ngày 30/10/2014 cho chị Nguyễn Thị O trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Chị Nguyễn Thị O không yêu cầu anh Trần Thanh Đ cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, xác định không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Anh Trần Thanh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0007285 ngày 18/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 19; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Thanh Đ.
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Thanh Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị O.
2. Về con chung: Giao con chung là Trần Nguyên Bảo T, sinh ngày 30/10/2014 cho chị Nguyễn Thị O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Chị Nguyễn Thị O không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không giải quyết.
Sau khi ly hôn anh Trần Thanh Đ và chị Nguyễn Thị O có các quyền, nghĩa vụ theo các Điều 81, 82, 83, 84, 116 Luật hôn nhân và gia đình như sau:
- Quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chưa thành niên theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình.
- Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân gia đình.
- Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
- Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
- Quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Anh Trần Thanh Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0007285 ngày 18/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đựơc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Krông Nô; - Chi cục THADS huyện Krông Nô; - UBND xã Đ; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Võ Thị Nhi |