vanban.org

Bản án 11/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Cẩm T đối với anh Hồ Minh L. Chị T được ly hôn với anh L.

Về con chung: Chị T và anh L có một con chung tên Hồ Quỳnh Ngọc Tr, sinh ngày 02-6-2022. Giao cháu Tr cho chị T trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh L trình bày không có, không yêu cầu nên Toà á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về ly hôn và nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Cẩm T đối với anh Hồ Minh L. Chị T được ly hôn với anh L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN CẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/HNGĐ-ST
Ngày 10-3-2023
V/v tranh chấp về ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU – TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Danh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Bích Liên;

2. Ông Nguyễn Hồng Phúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tươi - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đình Lưỡng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 205/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2023:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Cẩm T, sinh năm 2001.

Địa chỉ: Tổ 9, ấp X, xã Y, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. “có mặt”

2. Bị đơn: Anh Hồ Minh L, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Tổ 3, ấp X1, xã Y, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. “có mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 18-10-2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa - nguyên đơn chị Lê Cẩm T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Hồ Minh L trên cơ sở tìm hiểu nhau một thời gian thì tự nguyện về chung sống với nhau vào năm 2021, không tổ chức lễ cưới, nhưng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào cùng năm. Vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên anh L thường xuyên về kiếm chuyện gây gổ, đánh chị T 03 lần; từ đó dẫn cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Vợ chồng ly thân từ tháng 10/2022 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hòa giải hàn gắn được nên chị T yêu cầu ly hôn anh Hồ Minh L.

Về con chung: Chị T và anh L có một con chung tên Hồ Quỳnh Ngọc Tr, sinh ngày 02-6-2022; hiện cháu Tr đang sống với chị T. Chị T yêu cầu được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc cháu Tr, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị T và anh L không có, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Chị T cam kết vợ chồng không có nợ ai.

Bị đơn – anh Hồ Minh L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh L thống nhất quan hệ hôn nhân và thời gian ly thân đúng như lời trình bày của chị T. Tuy nhiên, về nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là giữa chị T và mẹ ruột anh L trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày không hòa hợp. Ngoài ra, anh L phát hiện chị T có tình cảm với người đàn ông khác, vợ chồng có gây gổ nên anh L có dùng tay đánh chị T 03 lần. Bản thân anh L vẫn còn thương yêu vợ con, mong muốn gia đình hòa giải, hàn gắn. Do đó, anh L không chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Cẩm T.Tuy nhiên, anh L thừa nhận từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay không có động thái để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Về con chung: Anh L và chị T có một con chung tên Hồ Quỳnh Ngọc Tr, sinh ngày 02-6-2022; hiện cháu Tr đang sống với chị T. Nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T, anh L thống nhất giao cháu Tr cho chị T tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc; anh L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh L và chị T không có, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Anh L cam kết vợ chồng không có nợ ai.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, Kiểm sát viên không phát hiện vi phạm tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Lê Cẩm T đối với anh Hồ Minh L.

Về án phí: Buộc chị Lê Cẩm T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; anh Hồ Minh L không phải chịu án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp và qua kết quả thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, xét thấy:

Về tố tụng: Chị Lê Cẩm T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Hồ Minh L, anh L có địa chỉ tại huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về hôn nhân: Chị T và anh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Bến Cầu cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 46/2021 ngày 11-5-2021 nên hôn nhân giữa chị T và anh L là hợp pháp. Về nguyên nhân mâu thuẫn, chị T và anh L đều thống nhất giữa vợ chồng có bất đồng lối sống, nghi ngờ tình cảm dẫn đến thường xuyên gây gổ nên vợ chồng ly thân từ tháng 10/2022 cho đến nay. Quá trình làm việc, anh L không chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T vì anh L cho rằng mâu thuẫn giữa chị T và anh L có thể hòa giải hàn gắn được. Tuy nhiên, Tòa án đã tổ chức hòa giải và tạo điều kiện để chị T và anh L tự hòa giải nhưng không thành. Ngoài ra, từ thời gian ly thân cho đến nay anh L cũng thừa nhận không có động thái hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình chung sống anh L có hành vi đánh chị T, dẫn đến tình trạng hôn nhân trầm trọng, không thể hoà giải hàn gắn và mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh L theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị T và anh L thống nhất có một con chung tên Hồ Quỳnh Ngọc Tr, sinh ngày 02-6-2022, đang sống với chị T. Nếu ly hôn, chị T và anh L thỏa thuận giao cháu Tr cho chị T trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc; anh L không phải cấp dưỡng nuôi con vì vợ chồng tự thỏa thuận. Do đó, tiếp tục giao cháu Tr cho chị T trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị T và anh L trình bày không có, không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Về nợ chung: Chị T và anh L trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, có căn cứ nên chấp nhận.

Về án phí: Chị Lê Cẩm T phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Anh Hồ Minh L không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Cẩm T đối với anh Hồ Minh L. Chị T được ly hôn với anh L.

2. Về con chung: Chị T và anh L có một con chung tên Hồ Quỳnh Ngọc Tr, sinh ngày 02-6-2022. Giao cháu Tr cho chị T trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh L trình bày không có, không yêu cầu nên Toà án không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lê Cẩm T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, cho khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số: 0022940 ngày 23-12-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Anh Hồ Minh L không phải chịu án phí.

5. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Lê Cẩm T, anh Hồ Minh L có quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ