- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Văn H xin ly hôn chị Đinh T Lệ T"
- Tòa quyết gì? Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn H phải nộp 300.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HNGĐ- ST Ngày 28-7- 2023 “ V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN- TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Anh Vũ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đường Ngọc Đại và ông Nguyễn Xuân Thịnh
Thư ký phiên toà: Ông Đinh Xuân Tú – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 94/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2023 về việc ly hôn với một người đã bị Tòa án tuyên bố mất tích; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐST - HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ dân phố Y, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.
Bị đơn: Chị Đinh Thị Lệ T, sinh năm 1982; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng trước khi mất tích: Tổ dân phố Y, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn yêu cầu đề ngày 26 tháng 4 năm 2023 và những lời khai tiếp theo nguyên đơn là anh Nguyễn Văn H bày: Anh và chị Đinh Thị Lệ T được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường X (huyện M cũ), nay là thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 16 tháng 02 năm 2001. Sau khi kết hôn chị T về chung sống cùng gia đình anh tại tổ dân phố Y, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình chung sống ban đầu vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc và anh chị có 02 con chung. Năm 2010, chị T bỏ đi khỏi nhà từ đó đến nay không có bất cứ tin tức gì. Trong thời gian chị T bỏ đi khỏi nhà, anh và gia đình đã tổ chức tìm kiếm, trình báo chính quyền địa phương, Công an phường X về việc biệt tích của chị T, đăng tin tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị T trên phương tiện thông tin đại chúng. Ngày 24 tháng 4 năm 2023, theo yêu cầu của anh Nguyễn Văn H, Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên đã quyết định tuyên bố mất tích đối với chị Đinh Thị Lệ T, sinh ngày 26 tháng 3 năm 1982. Vì vậy, để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho mình, anh đã có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đinh Thị Lệ T.
Về con chung: Anh và chị Đinh Thị Lệ T có 02 con chung, hiện các cháu đã trưởng thành. Vì vậy anh không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Anh H không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết.
Đối với chị Đinh Thị Lệ T đã bị Tòa án tuyên bố mất tích từ tháng 4 năm 2023. Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (nơi cư trú cuối cùng của chị T trước khi bỏ đi biệt tích) cho thấy: Chị T đã bỏ nhà đi từ năm 2010 đến nay vẫn không có tin tức gì và hiện tại chị T không có mặt tại địa phương. Kể từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án tại Ủy ban nhân dân phường X nhưng đến ngày 28 tháng 7 năm 2023 khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai chị T vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án không thu thập được tài liệu, chứng cứ, bản tự khai của chị T. Do đó, Tòa án chỉ tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải theo thủ tục chung. Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và kết quả xác minh của Tòa án tại chính quyền địa phương nơi cư trú cuối cùng của chị T để xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn với chị Đinh Thị Lệ T.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc:
- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, đã xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm. Do bị đơn là chị Đinh Thị Lệ T đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, nên Tòa án quyết định đưa ra xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Do chị Đinh Thị Lệ T đã bị Tòa án tuyên bố mất tích nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 53, khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn H và xử cho anh Nguyễn Văn H được ly hôn với chị Đinh Thị Lệ T; về con chung: Anh H không yêu cầu giải quyết về con chung nên Viện kiểm sát không có ý kiến; về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Viện kiểm sát không có ý kiến; về án phí: Anh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về tố tụng: Bị đơn là chị Đinh Thị Lệ T bị Tòa án tuyên bố mất tích nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 208, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H và chị Đinh Thị Lệ T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 16 tháng 02 năm 2001 nên quan hệ hôn nhân của anh H và chị T là hợp pháp. Căn cứ vào đơn yêu cầu xin ly hôn chị T của nguyên đơn anh Nguyễn Văn H; căn cứ Quyết định số 01/2023/QĐST- VDS ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên về việc tuyên bố chị Đinh Thị Lệ T mất tích. Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật đến ngày Tòa án mở phiên tòa, chị T vẫn vắng mặt. Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Văn H, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, cho anh Nguyễn Văn H được ly hôn với chị Đinh Thị Lệ T.
Về con chung: Anh H và chị T có 02 con chung đều đã trưởng thành nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Anh H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Anh Nguyễn Văn H được ly hôn với chị Đinh Thị Lệ T.
Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007077 ngày 09 tháng 5 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên. Anh H đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện KSND TP.Phúc Yên; - Chi cục THADS TP.Phúc Yên; - UBND P.Xuân Hòa, TP.Phúc Yên; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Anh Vũ |