vanban.org

Bản án 11/2022/LĐ-ST — Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh T đối với bị đơn Công ty FH và Công ty FX về việc yêu cầu Công ty FX phải hủy bỏ quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông Trần Thanh T và Công ty FH nhận lại làm việc.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh T đối với bị đơn Công ty FH và Công ty FX về việc tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Buộc Công ty FH và Công ty FX phải liên đới bồi thường cho ông Trần Thanh T tổng số tiền 53.607.000 đồng (năm mươi ba triệu sáu tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Ông Trần Thanh T tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty FX và Công ty FH"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh T đối với bị đơn Công ty FH và Công ty FX về việc yêu cầu Công ty FX phải hủy bỏ quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông Trần Thanh T và Công ty FH nhận lại làm việc.
  • Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2022/LĐ-ST
Ngày: 21-11-2022
V/v Tranh chấp đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Lài.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Cần - Hội viên Hội luật gia thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

2. Ông Lê Minh Hoàng - Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thuyến - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Ngọc Trinh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 16, 21 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Lao động thụ lý số 56/2022/TLST-LĐ ngày 15 tháng 3 năm 2022 về việc: “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2022/QĐXXST-LĐ ngày 29 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2022/QĐST-LĐ ngày 14 tháng 9 năm 2022, quyết định tạm ngừng phiên tòa số 08/2022/QĐST-LĐ ngày 30 tháng 9 năm 2022, thông báo mở lại phiên tòa số 10/2022/TB-TA ngày 28 tháng 10 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 12/2022/QĐST-LĐ ngày 08 tháng 11 năm 2022, giữa:

- Nguyên đơn: Ông Trần Thanh T, sinh năm 1988; địa chỉ: Khu phố Vĩnh Chánh 1, phường V, thành phố C, tỉnh A; tạm trú: Nhà trọ T, khu phố Ô, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông M, sinh năm 1981; địa chỉ liên hệ: Khu dân cư thương mại U, khu phố 3, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương. (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 05/01/2022); có mặt.

- Bị đơn:

1. Công ty FH; trụ sở chính: Lô 2, đường N6, khu công nghiệp N, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hồng D, sinh năm 1985; địa chỉ liên hệ: Công ty FH; trụ sở chính: Lô 2, đường N6, khu công nghiệp N, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương (Theo giấy ủy quyền ngày 25/4/2022); vắng mặt.

2. Công ty FX; trụ sở chính: Lô R4, đường N10, khu công nghiệp N, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: ông Võ Thành V, sinh năm 1991; địa chỉ: số 93, ấp Lồ Ồ, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương; yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông P, sinh năm 1982; địa chỉ liên hệ: Công ty FH; trụ sở chính: Lô 2, đường N6, khu công nghiệp N, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương; yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Công ty TNHH bảo vệ T; địa chỉ: số 137B, đường N, phường 9, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh; người đại diện hợp pháp: ông Võ Thành T, chức vụ: Giám đốc; yêu cầu giải quyết vắng mặt;

+ Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1966; địa chỉ: ấp 3, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 07/01/2022, đơn khởi kiện bổ sung, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông M trình bày:

Ngày 01/7/2020 ông Trần Thanh T và Công ty FX (sau đây gọi tắt là Công ty FX) ký Hợp đồng lao động số 17/HĐLĐ thời hạn hợp đồng từ ngày 01/7/2020 đến ngày 01/7/2021. Người đại diện công ty ký hợp đồng lao động là ông P chức vụ Tổng giám đốc. Công việc chuyên môn: đánh bóng, thời gian làm việc 8 tiếng/ngày từ 7h30 đến 16h30, một tuần làm 6 ngày từ thứ 2 đến thứ 7, thời gian nghỉ trưa là từ 11h30 đến 12h30 và ngày Chủ nhật hàng tuần được nghỉ. Mức lương cơ bản 4.800.000 đồng, ngoài ra còn có các khoản phụ cấp khác lương và trợ cấp khác gồm thưởng chuyên cần 300.000 đồng, phụ cấp nhà trọ sinh hoạt: 200.000 đồng, phụ cấp trách nhiệm: 1.600.000 đồng. Tổng lương của ông Trần Thanh T là 8.500.000 đồng/tháng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng trên một tháng). Hợp đồng lao động giữa ông T và Công ty FX đến ngày 01/7/2021 mới hết thời hạn, tuy nhiên ngày 01/6/2021, ông P người đại diện ký hợp đồng lao động của Công ty FX, đồng thời cũng là người đại diện ký hợp đồng lao động của Công ty FH yêu cầu ký tiếp hợp đồng lao động số FH21893, thời hạn hợp đồng 01 (một) năm từ ngày 01/6/2021 đến ngày 31/5/2022 và điều động đến Công ty FH cùng làm công việc chuyên môn: đánh bóng, thời gian làm việc là 8 tiếng/ngày từ 7h30 đến 16h30, một tuần làm 6 ngày từ thứ 2 đến thứ 7, thời gian nghỉ trưa là từ 11h30 đến 12h30 và ngày Chủ nhật hàng tuần được nghỉ. Lương cơ bản 4.729.400 đồng, ngoài ra còn có các khoản phụ cấp khác lương và trợ cấp khác gồm thưởng chuyên cần 400.000 đồng, phụ cấp nhà trọ 100.000 đồng, phụ cấp xăng xe 100.000 đồng, phụ cấp kỹ thuật nên số tiền thực lãnh của ông T là 8.500.000 đồng/tháng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng trên một tháng).

Từ khi ký hợp đồng lao động số FH21893 ngày 01/6/2021 với Công ty FH ông T không còn làm việc tại Công ty FX theo nội dung Hợp đồng lao động số 17/HĐLĐ ngày 01/7/2020. Công ty FX đã trả đủ lương cho ông T đến thời điểm ngày 01/6/2021 và Công ty FH trả lương cho ông T từ ngày 01/6/2021 đến khi bị cho nghỉ việc nhưng Công ty FX tham gia bảo hiểm xã hội cho ông T. Hai công ty đều có tồn tại quan hệ lao động với ông T và tại hai công ty trên, ông T đều làm cùng một công việc và cùng một địa điểm làm việc.

Quá trình làm việc ông T luôn tuân thủ theo sự sắp xếp điều động của ông P khi phân công làm việc tại Công ty FX và Công ty FH. Do tình hình dịch bệnh Covid-19, công nhân phải ở Công ty làm việc theo hình thức “3 tại chỗ” (sản xuất, cách ly, ăn nghỉ tại chỗ). Đến ngày 19/9/2021 (Chủ nhật) Công ty yêu cầu ông T trong thời gian tới sẽ phải làm việc vào cả ngày Chủ nhật và bắt đầu vào ngày 19/9/2021 (Chủ nhật) nhưng công ty không sắp xếp ngày nghỉ khác trong tuần. Nhận thấy, yêu cầu của Công ty không hợp lý vì đã đi làm cả tuần rất vất vả phải có thời gian nghỉ ngơi cho tuần làm việc tiếp theo và trong Hợp đồng lao động cũng không quy định phải làm việc vào ngày chủ nhật nên ông T không đồng ý. Vì lý do này bảo vệ của công ty (ông T không nhớ tên người bảo vệ) đã nói miệng với ông T có chỉ đạo từ lãnh đạo công ty đuổi ông T ra khỏi công ty và thông báo ông T đã bị Công ty cho nghỉ việc từ ngày 19/9/2021 lý do không đồng ý làm việc ngày chủ nhật và gây rối kích động các công nhân khác nghỉ việc nên công ty phải mời công an đồn khu công nghiệp Nam Tân Uyên đến giải quyết, ông T phải rời khỏi công ty vào ngày 19/9/2021.

Sau khi bị đuổi ra khỏi Công ty, ngày hôm sau 20/9/2021 (thứ hai) là ngày làm việc ông T đến Công ty làm việc nhưng bảo vệ không cho vào sau đó cách khoảng 02-3 ngày ông T đến công ty một vài lần nhưng bảo vệ Công ty vẫn không cho vào nên ông T khởi kiện ra toà án, không yêu cơ quan chức năng có thẩm quyền hoặc công đoàn công ty can thiệp.

Sau khi khởi kiện, ông T nhận được Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn số 06-11/2021/QĐTV ngày 15/01/2022 do Công ty FX đóng dấu với lý do xin thôi việc. Người ký Hợp đồng lao động số 17/HĐLĐ ngày 01/7/2020 giữa Công ty FX với ông T, ký Hợp đồng lao động số FH21893 ngày 01/6/2021 giữa Công ty FH với ông T và Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn ngày 15/01/2022 đều cùng một người là ông P, hiện đang là Tổng Giám đốc Công ty FX và đồng thời cũng là Phó Giám đốc Công ty FH. Trên thực tế, ông T chưa từng gửi đơn hoặc thông báo với công ty về việc xin thôi việc. Vì ông T không chấp nhận đi làm vào ngày chủ nhật nên Công ty FH không cho ông T tiếp tục làm việc. Công ty FX ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn không thông báo trước là trái pháp luật làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, ông T yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

1. Buộc Công ty FH phải liên đới với Công ty FX trả cho ông Trần Thanh T tiền lương những ngày không được làm việc tính từ ngày 19/9/2021 đến ngày 31/5/2022 (ngày hết thời hạn ghi trong hợp đồng lao động) là 08 tháng 10 ngày nhân với số tiền 8.500.000 đồng/tháng = 71.270.000 đồng.

2. Buộc Công ty FH phải liên đới với Công ty FX bồi thường 02 tháng tiền lương và phụ cấp lương cho ông Trần Thanh T do đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật với số tiền 8.500.000 đồng x 02 tháng = 17.000.000 đồng.

3. Buộc Công ty FH phải liên đới với Công ty FX bồi thường 01 tháng tiền lương cho ông Trần Thanh T do vi phạm thời gian báo trước là 30 ngày với số tiền 283.000 đồng/ngày x 30 ngày = 8.490.000 đồng.

4. Yêu cầu Công ty FX phải hủy bỏ quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông Trần Thanh T và Công ty FH nhận lại làm việc. Trường hợp Công ty FH không nhận ông Trần Thanh T lại làm việc thì yêu cầu Công ty FH phải liên đới với Công ty FX bồi thường 04 tháng tiền lương với số tiền 8.500.000 đồng x 04 tháng = 34.000.000 đồng.

5. Buộc Công ty FH và Công ty FX phải liên đới đóng các khoản bảo hiểm sau: bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp cho ông Trần Thanh T tính từ ngày 19/9/2021 đến ngày hết thời hạn ghi trong hợp đồng lao động 31/5/2022.

Tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thay đổi và rút một phần yêu cầu khởi kiện cụ thể: Buộc Công ty FH phải liên đới với Công ty FX trả cho ông Trần Thanh T tiền lương những ngày không được làm việc tính từ ngày 19/9/2021 đến ngày 31/5/2022 (ngày hết thời hạn ghi trong hợp đồng lao động) là 08 tháng 10 ngày x 5.229.400 đồng/tháng = 41.835.200 đồng (mức lương cơ bản: 4.729.400 đồng; phụ cấp nhà trọ 100.000 đồng; phụ cấp chuyên cần 400.000 đồng); Buộc Công ty FH phải liên đới với Công ty FX bồi thường 02 tháng tiền lương và phụ cấp lương cho ông Trần Thanh T do đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật với số tiền 5.229.400 đồng x 02 tháng = 10.458.800 đồng; Buộc Công ty FH phải liên đới với Công ty FX bồi thường 01 tháng tiền lương cho ông Trần Thanh T do vi phạm thời gian báo trước là 30 ngày với số tiền 5.229.400 đồng. Rút yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu Công ty FX phải hủy bỏ quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông Trần Thanh T và Công ty FH nhận lại làm việc. Trường hợp Công ty FH không nhận ông Trần Thanh T lại làm việc thì yêu cầu Công ty FH phải liên đới với Công ty FX bồi thường 04 tháng tiền lương với số tiền 8.500.000 đồng x 04 tháng = 34.000.000 đồng; Buộc Công ty FX phải đóng các khoản bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp cho ông Trần Thanh T đến ngày hết thời hạn ghi trong hợp đồng lao động 31/5/2022.

Như vậy, tổng số tiền ông Trần Thanh T yêu cầu Công ty FH liên đới với Công ty FX phải bồi thường là 57.612.400 đồng (năm mươi bảy triệu sáu trăm mười hai nghìn bốn trăm đồng).

Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/8/2022, người đại diện hợp pháp của Công ty FX, ông Võ Thành V trình bày: Ông V là người đại diện theo pháp luật của Công ty FX ông Võ Thành V có uỷ quyền cho ông P chức vụ Phó Giám đốc của Công ty ký Hợp đồng lao động số 17/HĐLĐ ngày 01/7/2020 với ông Trần Thanh T, thời hạn từ ngày 01/6/2021 đến ngày 01/7/2021. Vì nhiều lý do trong đó có lý do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid19, công ty đã ngưng hoạt động từ cuối tháng 5/2021 nhưng đến nay vẫn còn tồn tại tư cách pháp nhân. Công ty đã trả đủ lương và các khoản phụ cấp cho ông Trần Thanh T đến hết tháng 5/2021, bên cạnh đó công ty vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng lao động nên đã thực hiện đóng các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cho ông T và chốt sổ bảo hiểm xã hội cho ông T đến hết tháng 9/2021. Công ty vẫn có quyền ký các giấy tờ để đảm bảo quyền lợi cho công ty và người lao động trong đó có Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn ngày 15/01/2022 với ông Trần Thanh T.

Ông V thừa nhận có uỷ quyền cho ông P đại diện Công ty FX ký Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn ngày 15/01/2022 với ông Trần Thanh T. Vì lỗi soạn thảo văn bản, Công ty không kiểm tra kỹ nội dung nên trong quyết định có ghi lý do ông T xin nghỉ việc, thực tế ông Trần Thanh T không làm đơn xin nghỉ việc mà là hết thời hạn theo hợp đồng lao động. Mục đích của Công ty ban hành quyết định là để người lao động dễ dàng hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, chế độ phụ cấp, hỗ trợ trong thời gian dịch bệnh Covid 19. Công ty FX có tư cách pháp nhân độc lập, trụ sở công ty cũng không cùng một địa điểm và không có mối quan hệ gì với Công ty FH. Hợp đồng lao động giữa ông Trần Thanh T và Công ty FX đến ngày 01/7/2021 mới hết thời hạn, tuy nhiên trên thực tế từ ngày 01/6/2021 ông Trần Thanh T đã ký Hợp đồng lao động số FH21893 và làm việc tại Công ty FH. Tại thời điểm ông Trần Thanh T nộp đơn khởi kiện giữa Công ty FX và Công ty FH ông Trần Thanh T không còn tồn tại mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ giữa người sử dụng lao động và người lao động nên bị đơn Công ty FX không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông T.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty FH, ông Nguyễn Hồng D trình bày: không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì Công ty FH không đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông Trần Thanh T. Tháng 5/2021 dịch bệnh ở tỉnh Bình Dương bắt đầu có những chuyển biến phức tạp, nghiêm trọng. Tháng 7/2021 Công ty vì sự an toàn của công nhân viên đã thông báo nội bộ thực hiện chế độ “3 tại chỗ”, thời điểm này các bộ phận trong Công ty đều tích cực ủng hộ và hợp tác, nhưng nguyên đơn Trần Thanh T cùng 3 người bao gồm Trần Thanh M, Trần Hữu H và Trần Thanh H thuộc bộ phận đánh bóng lại kiên quyết không chấp hành, đồng thời lôi kéo những công nhân khác bãi công, tự ý nghỉ làm, đưa ra đề nghị hết sức vô lý, yêu cầu công ty chấm dứt thực hiện chế độ “3 tại chỗ”. Do công nhân trong bộ phận đánh bóng chiếm phần đông nhân viên của công ty nên tạo ra ảnh hưởng hết sức nghiêm trọng, công ty buộc phải đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn và những người còn lại, chấm dứt thực hiện chế độ “3 tại chỗ”.

Tháng 8, 9/2021, Công ty tiếp tục thông báo yêu cầu các bộ phận thực hiện chế độ “3 tại chỗ” theo Chỉ thị của Nhà nước để có thể tiếp tục sản xuất, nhưng ông Trần Thanh T và 3 người bạn là Trần Thanh M, Trần Hữu H, Trần Thanh H lại nhiều lần vi phạm quy định của công ty, uống rượu, gây gổ trong xưởng. Công ty đã nhiều lần phê bình, ngăn cấm trong đó một trong ba người bạn của ông T đã từng gây sự, đánh nhau, dẫn đến chấn thương ở vùng đầu. Công ty đã chi trả tiền thuốc men, hỗ trợ chi phí điều trị cho bạn của ông T và vẫn tạo điều kiện để ông T tiếp tục làm việc.

Tháng 9/2021, do đơn hàng của công ty đến hạn phải gấp rút sản xuất, nhưng phần lớn công nhân viên lại không thể đến làm việc, lúc này trong xưởng chỉ còn lại 12 công nhân viên. Ngày 18/9/2021, ông T đã cùng 3 người bạn là Trần Thanh M, Trần Hữu H, Trần Thanh H sau khi uống rượu xong, đã tụ tập tại cửa văn phòng, dựa vào việc công ty hiện tại không còn công nhân làm việc đưa ra những yêu cầu vô lý, buộc công ty phải tăng lương cho họ, nếu không tăng thì sẽ không tiếp tục làm việc. Ông D lúc đó là người coi quản công ty đã nghiêm khắc phê bình họ, cho rằng họ uống rượu rồi nên không được tỉnh táo, cũng không xử phạt gì, chỉ nói họ về nghỉ ngơi, ngày mai tiếp tục làm việc, lúc này các công nhân mới chịu rời đi.

Chủ nhật ngày 19/9/2021, 07 giờ 30 phút sáng vì công ty phải gia tăng sản xuất, nên công nhân còn lại trong xưởng đều đi làm, ông T và 3 người bạn là Trần Thanh M, Trần Hữu H, Trần Thanh H lại vì chuyện tối ngày 18/9/2021 công ty không đồng ý tăng lương mà không chịu đi làm, còn uy hiếp những công nhân khác cũng không được đi làm. Đến 20 giờ tối cùng ngày, ông D thấy công nhân không làm nên đã hỏi lý do thì công nhân cho biết ông T và bạn của ông đã uy hiếp họ không được đi làm, nếu ai đi làm thì sẽ đánh người đó. Lúc này ông D rất tức giận nên đã nghiêm khắc phê bình ông T, nhưng ông T và những người bạn của ông vẫn không nghe, ngược lại còn nói muốn về nhà, không làm nữa. Để bảo vệ an ninh trật tự của công ty, của toàn khu công nghiệp Nam Tân Uyên, đồng thời bảo vệ sức khỏe, mạng sống của toàn nhân viên trong công ty vì trong tình hình dịch bệnh nguy hiểm và công ty có nhiều ca bệnh nhưng ông T và một vài công nhân khác vẫn không tuân thủ các quy định phòng chống dịch, Công ty đã đồng ý làm giấy thông hành cho ông T và một vài công nhân nữa ra về.

Tháng 10/2021, Công ty chính thức khôi phục sản xuất. Vì lí do dịch bệnh, có một số công nhân trong đó có ông T đã gọi điện thoại nhờ làm thủ tục thôi việc hoặc tự động nghỉ việc về quê. Công ty FH không ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông T nhưng vẫn thanh toán lương và các khoản phụ cấp đầy đủ cho ông T đến hết tháng 9/2022.

Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn số 06-11/2021/QĐTV ngày 15/01/2022 do Công ty FX đóng dấu, Công ty FH và Công ty FX không có mối liên hệ mà là hai nghiệp độc lập, người đại diện theo pháp luật cũng không phải cùng 01 người. Ông Trần Thanh T làm công nhân tại Công ty FX, khi công ty này giải thể thì ông T đến Công ty FH làm công nhân.

Công ty không thừa nhận mức lương thực nhận của ông T là 8.500.000 đồng/tháng. Theo hợp đồng lao động lương cơ bản của ông T 4.729.400 đồng, thưởng chuyên cần 400.000 đồng, phụ cấp nhà trọ 100.000 đồng, phụ cấp xăng xe 100.000 đồng, nên ông T đi làm đầy đủ các ngày trong tháng sẽ nhận số tiền thực lãnh là 5.329.400 đồng/tháng. Tuy nhiên từ tháng 10/2022 ông T không đi làm nên công ty không đồng ý trả lương và phụ cấp lương theo yêu cầu khởi kiện của ông T.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông P, trình bày: khi ký Hợp đồng lao động số 17/HĐLĐ ngày 01/7/2020 với các công nhân làm việc tại Công ty FX, trụ sở chính Lô R4, đường N10, khu công nghiệp Nam Tân Uyên, phường Khánh Bình, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương với tư cách Tổng giám đốc, ông P được người đại diện theo pháp luật của công ty là ông Võ Thành V uỷ quyền thì mới có quyền ký các hợp đồng lao động mà công nhân giao nộp cho Toà án. Ông P là người lao động, khi Công ty FX ngừng hoạt động, ông đã liên hệ với Công ty FH để được làm việc đúng với chuyên môn, sở trường và rút cổ phần của mình góp sang Công ty FH.

Công ty FX và Công ty FH không có mối quan hệ gì, tại 02 công ty, chức vụ quyền hạn của ông P không giống nhau. Do người đại diện theo pháp luật của Công ty FH là ông Shen Bao uỷ quyền nên ông P mới có quyền ký các hợp đồng lao động với công nhân trong đó có ký Hợp đồng lao động số FH21893 ngày 01/6/2021 giữa Công ty FH với ông Trần Thanh T.

Công ty FX ngừng hoạt động nhưng chưa chấm dứt tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật. Công ty đã trả đủ lương và phụ cấp nhưng vẫn thực hiện đóng các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp bảo hiểm y tế cho công nhân và chốt sổ bảo hiểm xã hội cho công nhân trong công ty đết hết tháng 9/2021 và vẫn có quyền ký các giấy tờ để đảm bảo quyền lợi cho người lao động trong đó có Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn ngày 15/01/2022 với ông Trần Thanh T.

Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn ngày 15/01/2022 với ông Trần Thanh T ghi rõ Công ty FX ra quyết định và đóng đấu, ông P không được Công ty FH uỷ quyền và cũng không ký Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn với ông Trần Thanh T với tư cách đại diện Công ty FH.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

- Về tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên.

- Về nội dung: Nguyên đơn ký hợp đồng lao động với Công ty FX thời hạn từ ngày 01/7/2020 đến ngày 01/7/2021. Ngày 01/6/2021, nguyên đơn lại ký hợp đồng lao động với Công ty FH thời hạn 12 tháng từ ngày 01/6/2021 đến ngày 31/5/2022. Thực tế Công ty FH thực hiện việc trả lương cho nguyên đơn, còn Công ty FX tham gia đóng BHXH cho nguyên đơn đến tháng 10/2021. Công ty FH thành lập từ năm 2021 nhưng theo bảng lương của nguyên đơn do đại diện Công ty FH cung cấp thì nguyên đơn bắt đầu làm việc tại Công ty từ ngày 27/4/2020, đây là tình tiết chứng minh nguyên đơn làm việc từ năm 2020 tại Công ty FX sau đó ông P điều động qua Công ty FH làm cùng một công việc. Công ty FX ban hành Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với nguyên đơn vào ngày 15/01/2022 là thời điểm nguyên đơn không còn làm việc tại Công ty FH. Thực tế thì quan hệ lao động giữa Công ty FX và nguyên đơn đã chấm dứt từ tháng 6/2021. Trong quá trình tham gia tố tụng người đại diện theo pháp luật của Công ty FH trình bày do nguyên đơn tự ý nghỉ việc nên Công ty đã ban hành quyết định sa thải để người lao động hưởng chế độ về BHXH và trợ cấp của Nhà nước. Lời thừa nhận của đại diện Công ty FH là tình tiết không cần chứng minh cho việc Công ty FX ra quyết định nhưng Công ty FH thi hành quyết định.

Từ những phân tích trên, xét thấy giữa Công ty FX và Công ty FH có mối quan hệ về việc sử dụng lao động, có thỏa thuận về việc sử dụng lao động với nguyên đơn. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu 02 Công ty có trách nhiệm liên đới bối thường là có cơ sở xem xét.

Đối với Công ty FX: Thực tế quan hệ lao động giữa Công ty và nguyên đơn đã chấm dứt từ ngày 01/6/2021 và Công ty cũng đã chốt và trả sổ BHXH cho nguyên đơn. Do đó, xét thấy Công ty FX đã thực hiện hết các nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với người lao động nên việc nguyên đơn yêu cầu Công ty FX bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là không có căn cứ.

Đối với Công ty FH: Giữa nguyên đơn và Công ty FH tồn tại quan hệ lao động từ ngày 01/6/2021 đến ngày 31/5/2022. Nguyên đơn cho rằng do không đồng ý làm việc ngày Chủ nhật nên Công ty đã cho nguyên đơn nghỉ việc. Các ngày sau đó nguyên đơn có đến Công ty nhưng bảo vệ không cho vào công ty làm việc. Công ty FH cho rằng do nguyên đơn gây rối, không chịu làm việc và đòi về nhà nên Công ty đã làm giấy thông hành cho nguyên đơn ra về, từ đó nguyên đơn không quay trở lại Công ty làm việc nữa.

Xét thấy, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự về nghĩa vụ chứng minh trong vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động. Công ty FH cho rằng do nguyên đơn gây rối, đòi về nhà dẫn đến Công ty phải báo Công an đồn khu Công nghiệp Nam Tân Uyên. Tuy nhiên, qua xác minh thì Công an đồn khu công nghiệp không nhận được tin báo gây rối nào từ phía Công ty. Mặc dù đến thời điểm hiện nay Công ty FH vẫn chưa ban hành bất kỳ 01 quyết định thôi việc nào với nguyên đơn nhưng nếu thực tế nguyên đơn có hành vi vi phạm và nghỉ việc không đến Công ty làm việc, Công ty có quyền ra quyết định sa thải nguyên đơn nhưng vẫn phải thực hiện các trình tự, thủ tục xử lý người lao động theo quy định của Bộ luật Lao động. Qua các biên bản xác minh ngày 26/10/2022 tại Liên đoàn lao động và Phòng lao động thị xã Tân Uyên thì Công ty FH chưa đăng ký thành lập tổ chức Công đoàn của Công ty và không thực hiện đề nghị hỗ trợ cho công nhân theo nghị quyết số 68 ngày 01/7/2021 của Chính phủ và Quyết định số 09 ngày 16/7/2021 của UBND tỉnh Bình Dương về việc hỗ trợ cho công nhân. Xét thấy Công ty FH không có chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình nên việc nguyên đơn yêu cầu Công ty FH bồi thường thiệt hại do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là có căn cứ chấp nhận.

Các yêu cầu của nguyên đơn về việc bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật phù hợp theo Điều 41 của Bộ luật Lao động nên có căn cứ chấp nhận, tuy nhiên mức lương làm căn cứ bồi thường sẽ là mức lương đóng bảo hiểm xã hội (4.729.400 đồng/tháng). Do đó, có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Công ty FH bồi thường do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu nguyên đơn đã rút.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn ông Trần Thanh T khởi kiện bị đơn do bị chấm dứt hợp đồng lao động. Vì vậy, đây là vụ án tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Bị đơn có trụ sở tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 32, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

. Về sự vắng mặt của bị đơn Công ty FX; Công ty FH; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng người đại diện hợp pháp của Công ty FH; người đại diện hợp pháp của Công ty FX; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ các Điều 227,228, 229 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt những người trên.

. Về yêu cầu khởi kiện của đương sự: Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu Công ty FX phải hủy bỏ quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông Trần Thanh T và Công ty FH nhận lại làm việc. Trường hợp Công ty FH không nhận ông Trần Thanh T lại làm việc thì yêu cầu Công ty FH phải liên đới với Công ty FX bồi thường 04 tháng tiền lương với số tiền 8.500.000 đồng x 04 tháng = 34.000.000 đồng; Buộc Công ty FX phải đóng các khoản bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp cho ông Trần Thanh T đến ngày hết thời hạn ghi trong hợp đồng lao động 31/5/2022. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu nguyên đơn đã rút.

. Về nội dung: ông Trần Thanh T yêu cầu Công ty FH và Công ty FX liên đới bồi thường số tiền 57.612.400 đồng do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

. Xét Hợp đồng lao động số 17/HĐLĐ ngày 01/7/2020 giữa ông Trần Thanh T và Công ty FX: người đại diện công ty ký hợp đồng lao động là ông P chức vụ Tổng giám đốc, hợp đồng lao động có đóng dấu của Công ty FX, ông Võ Thành Vinh là người đại diện theo pháp luật của công ty thừa nhận có uỷ quyền cho ông P ký hợp đồng lao động nêu trên. Hợp đồng lao động số FH21893 ngày 01/6/2021 giữa ông Trần Thanh T và Công ty FH. Người đại diện ký hợp đồng lao động là ông P chức vụ Phó Giám đốc, có đóng dấu Công ty. Tòa án đã thông báo cho ông Vinh và ông P giao nộp văn bản ủy quyền nhưng không giao nộp. Do vậy, hình thức hợp đồng lao động không tuân thủ quy định tại Điều 14, 18 Bộ luật Lao động.

Về nội dung: theo Hợp đồng lao động số 17/HĐLĐ, người đại diện ký hợp đồng lao động là ông P, công việc chuyên môn của ông T là công nhân bộ phận đánh bóng, thời gian làm việc 8 tiếng/ngày từ 7h30 đến 16h30, một tuần làm 6 ngày từ thứ 2 đến thứ 7, thời gian nghỉ trưa là từ 11h30 đến 12h30 và ngày Chủ nhật hàng tuần được nghỉ. Mức lương cơ bản 4.800.000 đồng, ngoài ra còn có các khoản phụ cấp khác lương và trợ cấp khác gồm thưởng chuyên cần 300.000 đồng, phụ cấp nhà trọ sinh hoạt: 200.000 đồng, phụ cấp trách nhiệm: 1.600.000 đồng. Hợp đồng lao động đã tuân thủ quy định tại Điều 21 Bộ luật Lao động về nội dung.

Hợp đồng lao động giữa ông Trần Thanh T và Công ty FX đến ngày 01/7/2021 mới hết thời hạn, tuy nhiên ngày 01/6/2021, ông T tiếp tục ký Hợp đồng lao động số FH21893 với Công ty FH, thời hạn hợp đồng 01 (một) năm từ ngày 01/6/2021 đến 31/5/2022 làm công việc chuyên môn: đánh bóng, thời gian làm việc là 8 tiếng/ngày từ 7h30 đến 16h30, một tuần làm 6 ngày từ thứ 2 đến thứ 7, thời gian nghỉ trưa là từ 11h30 đến 12h30 và ngày Chủ nhật hàng tuần được nghỉ. Lương cơ bản 4.729.400 đồng, ngoài ra còn có các khoản phụ cấp khác lương và trợ cấp khác gồm thưởng chuyên cần 400.000 đồng, phụ cấp nhà trọ 100.000 đồng, phụ cấp xăng xe 100.000 đồng.

Trong quá trình tham gia tố tụng ông Trần Thanh T và người đại diện hợp pháp là ông M thừa nhận kể từ khi ký hợp đồng lao động số FH21893 ngày 01/6/2021 với Công ty FH ông T không còn làm việc tại Công ty FX theo nội dung Hợp đồng lao động số 17/HĐLĐ ngày 01/7/2020. Công ty FX đã trả đủ lương cho ông T đến thời điểm ngày 01/6/2021 và tham gia đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đồng thời chốt sổ bảo hiểm xã hội cho ông T đến hết tháng 9/2021.

Lời trình bày của nguyên đơn phù hợp với chứng cứ Toà án thu thập được tại cơ quan Bảo hiểm xã hội thị xã Tân Uyên nội dung Công ty FX đã tham gia đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và chốt thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho ông T đến hết tháng 9/2021 và trả sổ BHXH cho công ty.

Lời trình bày và sự thừa nhận của nguyên đơn về việc từ khi ký hợp đồng lao động số FH21893 ngày 01/6/2021 với Công ty FH ông T không còn làm việc tại Công ty FX đúng với diễn biến thời gian sự việc vì theo Hợp đồng lao động số 17/HĐLĐ ngày 01/7/2020 giữa ông T với Công ty FX thời hạn hợp đồng đến hết ngày 01/7/2021 và theo nội dung Hợp đồng lao động số FH21893 ngày 01/6/2021 giữa ông T với Công ty FH ông T không thể làm cùng công việc chuyên môn là đánh bóng tại hai công ty với thời gian làm việc 7h30 đến 16h30, một tuần làm 6 ngày từ thứ 2 đến thứ 7.

Trong quá trình tham gia tố tụng ông Trần Thanh T và người đại diện hợp pháp là ông M trình bày Công ty FX và Công ty FH có mối quan hệ với nhau vì đều tồn tại quan hệ lao động với ông Trần Thanh T, tại hai hợp đồng lao động người đại diện cho hai công ty ký hợp đồng cùng là ông P, ông T làm cùng một công việc và tại cùng một địa điểm làm việc. Lý do ông Trần Thanh T không làm việc tại Công ty FX và ký hợp đồng lao động với Công ty FH là do ông P điều động và yêu cầu ông Trần Thanh T ký.

Tại công văn số 341/ĐKKD ngày 25/3/2022, Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Dương cung cấp thông tin: Công ty FX có trụ sở chính Lô R4, đường N10, khu công nghiệp Nam Tân Uyên, phường Khánh Bình, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật là ông Võ Thành V, sinh năm 1991; địa chỉ: số 93, ấp Lồ Ồ, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Hoạt động theo mã số doanh nghiệp 3702735508 đăng ký lần đầu ngày 10/01/2019.

Công ty FH có trụ sở chính lô 2, đường N6, khu công nghiệp N, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật là ông S, sinh năm 1986 chức vụ Tổng giám đốc, hoạt động theo mã số doanh nghiệp 3702972273 đăng ký lần đầu ngày 15/4/2021.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn Công ty FH cung cấp chứng cứ là bảng lương của Công ty xác định thời gian làm việc của ông T tại Công ty là từ tháng 4/2020. Tòa án ban hành Thông báo yêu cầu bị đơn chứng minh việc xác định ông T làm việc tại Công ty FX từ tháng 4/2020 theo Hợp đồng lao động số 17/HĐLĐ ngày 01/7/2020, cùng thời gian và cùng công việc theo Hợp đồng số FH21893 ngày 01/6/2021 và cả hai hợp đồng đều là ông P ký với người lao động; yêu cầu cung cấp chứng cứ chứng minh việc ông P ký hai hợp đồng lao động nêu trên có ủy quyền của người đại diện hợp pháp của hai Công ty nhưng bị đơn không cung cấp. Công ty FX thành lập từ tháng 9/2019, Công ty FH thành lập từ tháng 4/2021. Do đó, có căn cứ xác định giữa Công ty FX và Công ty FH có mối liện hệ với nhau và cùng xác lập quan hệ lao động với ông T. Bị đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh đối với căn cứ, yêu cầu của nguyên đơn. Tại điểm b khoản 1 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án. Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động”. Do đó, bị đơn phải chịu hậu quả của việc không cung cấp tài liệu, chứng cứ, cũng như không thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình.

Tại Công văn số 83/CV-BHXH ngày 08/4/2022 của Bảo hiểm xã hội thị xã Tân Uyên cung cấp: ông Trần Thanh T được Công ty FX đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội thị xã Tân Uyên với mã số 7412125914 từ tháng 11/2020 đến tháng 10/2021. Tháng 10/2021 báo giảm với phương án nghỉ không lương. Ngày 10/01/2022 Bảo hiểm xã hội thị xã Tân Uyên đã thực hiện xác nhận quá trình đóng Bảo hiểm xã hội, giao về công ty để trả sổ cho ông T. Ông T thừa nhận Công ty FX đã chốt sổ bảo hiểm xã hội cho ông T đến hết tháng 9/2021 và công ty đã trả sổ Bảo hiểm xã hội cho ông T. Công ty FH chưa đăng ký tham gia BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho ông T.

Tại biên bản làm việc ngày 26/4/2022 tại Tòa án, đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty FH thừa nhận Công ty đã ra quyết định sa thải đối với ông T nhưng vẫn thanh toán lương và bảo hiểm đầy đủ đồng thời làm hồ sơ hoàn thành công nhận hỗ trợ theo Nghị quyết số 116. Lời trình bày phù hợp với chứng cứ Công ty FX chốt sổ bảo hiểm xã hội cho ông T đến tháng 9/2021 (phù hợp với thời điểm Công ty FH cho ông T nghỉ việc).

Trong quá trình tham gia tố tụng, người đại diện hợp pháp của Công ty FH, người đại diện hợp pháp của Công ty FX và ông P không thừa nhận hai công ty nêu trên có mối liên hệ với nhau. Bị đơn trình bày nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh.

Từ những phân tích và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định đến thời điểm tháng 9/2021 Công ty FX thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động với ông Trần Thanh T, Công ty FH thực hiện nghĩa vụ trả lương cho ông T đến tháng 9/2021 và tháng 01/2022 khi người lao động khởi kiện Công ty FX ban hành Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động và thời gian xác định chấm dứt là tháng 9/2021 (Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động do ông P ký). Do đó, có cơ sở cho rằng giữa Công ty FH và Công ty FX có mối liên hệ với nhau nên ông Trần Thanh T khởi kiện yêu cầu Công ty Ngũ Kim Feng Xin và Công ty FH phải bồi thường do đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với ông T là có căn cứ chấp nhận.

Trong quá trình tham gia tố tụng ông T và người đại diện hợp pháp của Công ty FH thừa nhận ông T làm việc tại công ty đến ngày 19/9/2021 do ông T không đồng ý làm việc ngày chủ nhật nên công ty yêu cầu bảo vệ đuổi ông T ra khỏi công ty và thông báo ông T không được làm việc tại công ty kể từ ngày 19/9/2021. Công ty FH không thừa nhận lời trình bày của ông T mà cho rằng ông T không đồng ý làm việc ngày chủ nhật đồng thời kích động, lôi kéo và đe dọa các công nhân khác không được làm việc nên công ty phải làm giấy thông hành cho ông T ra về theo yêu cầu của ông T.

Xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự và mâu thuẫn tại các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Tòa án đã triệu tập các đương sự tham gia đối chất làm rõ nội dung nhưng người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn từ chối đối chất, bị đơn và người có quyền nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Do đó, Tòa án căn cứ chứng cứ trong hồ sơ vụ án để giải quyết.

Ông T trình bày ngày 20/9/2021 có đến công ty làm việc nhưng bảo vệ tại cổng của công ty không cho vào. Khoảng 02 đến 03 ngày sau ông T tiếp tục đến công ty nhưng bảo vệ không cho ông T vào làm việc nên ông T không đến công ty nữa. Người làm chứng trình bày không có việc công nhân đến Công ty làm việc.

Công ty không thừa nhận có yêu cầu bảo vệ không cho ông T vào làm việc vì ông T là công nhân của công ty, chỉ cần có thẻ công nhân là vào làm việc bình thường. Từ tháng 10/2021 ông T không đến công ty làm việc nhưng do ảnh hưởng dịch bệnh, công ty thiếu nhân lực nên mới thanh toán tiền lương và các khoản bảo hiểm xã hội vào lương cho ông T đến hết tháng 9/2021. Tới thời điểm xét xử sơ thẩm công ty chưa ban hành quyết định buộc ông T thôi việc.

Biên bản xác minh ngày 10/11/2022 tại Liên đoàn lao động thị xã Tân Uyên cung cấp: Công ty FH không thành lập công đoàn, không thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng lao động. Tòa án đã tống đạt văn bản yêu cầu bị đơn cung cấp chứng cứ chứng minh việc từ ngày 20/9/2021 ông T không đến Công ty làm việc nhưng bị đơn không cung cấp.

Người đại diện hợp pháp của Công ty FX ông Võ Thành V trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 08/8/2022: “Hợp đồng lao động giữa ông Trần Thanh T và Công ty FX đến ngày 01/7/2021 mới hết thời hạn, tuy nhiên hết tháng 5/2021 Công ty FX tạm ngưng hoạt động nhưng đã trả đủ lương cho ông T đến hết tháng 5/2021, công ty tham gia đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đồng thời chốt sổ bảo hiểm xã hội cho ông T đến tháng 9/2021 là thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người sử dụng lao động ngay cả sau thời gian kết thúc hợp đồng lao động. Tại thời điểm ông T nộp đơn khởi kiện giữa Công ty FX và ông T không còn tồn tại mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động nên công ty không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông T. Trên thực tế từ ngày 01/6/2021 ông Trần Thanh T đã ký Hợp đồng lao động số FH21893 và làm việc tại Công ty FH”; ông P xác định Công ty FX ngừng hoạt động nên rút cổ phần của mình sang Công ty FH. Như vậy, người đại diện hợp pháp của Công ty FX là ông V, người ký kết lại hợp đồng lao động với ông T là ông P và cũng chính ông ông P là người điều động ông T đến Công ty FH làm cùng một công việc chuyên môn đánh bóng, cùng một địa điểm làm việc. Từ ngày 01/6/2021 Công ty FH trả lương nhưng Công ty FX tham gia bảo hiểm xã hội, Công ty FX ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động. Tòa án ra thông báo yêu cầu bị đơn cung cấp chứng cứ chứng minh không có mối liên quan, hợp tác giữa Công ty FX và Công ty FH nhưng bị đơn không cung cấp được.

Từ những phân tích nêu trên có căn cứ xác định giữa Công ty FH và Công ty FX có mối liên hệ với nhau nên ông T khởi kiện bị đơn về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là có căn cứ chấp nhận.

Xét yêu cầu của ông Trần Thanh T về việc buộc Công ty FX liên đới với Công ty FH bồi thường cho ông T những ngày không được làm việc theo mức lương 5.229.400 đồng/tháng. Theo hợp đồng lao động và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn thừa nhận mức lương cơ bản là 4.729.400 đồng; Bảo hiểm xã hội thị xã Tân Uyên xác nhận mức lương hàng tháng ông T đóng Bảo hiểm xã hội là 4.730.000 đồng. Các khoản phụ cấp, chuyên cần và mức độ hoàn thành công việc là những khoản phụ cấp chỉ được tính khi người lao động trực tiếp tham gia lao động mới xác định được nhu cầu liên lạc, đi lại và có thể hiện đầy đủ tinh thần trách nhiệm, mức độ hoàn thành công việc và sự chuyên cần hay không. Vì vậy, chỉ có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu của ông T với mức lương xác định để bồi thường là 4.730.000 đồng bao gồm: Bồi thường tiền lương những ngày không được làm việc từ ngày 19/9/2021 đến ngày 31/5/2022 là 08 tháng 10 ngày x 4.730.000 đồng = 39.416.667 đồng; Bồi thường 02 tháng tiền lương là 9.460.000 đồng; Bồi thường 01 tháng tiền lương do vi phạm thời hạn báo trước là 4.730.000 đồng. Tổng cộng 53.607.000 đồng (Năm mươi ba triệu sáu trăm lẻ bảy nghìn đồng).

Tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn rút yêu cầu Công ty FX phải hủy bỏ quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông Trần Thanh T và Công ty FH nhận lại làm việc. Trường hợp Công ty FH không nhận ông Trần Thanh T lại làm việc thì yêu cầu Công ty FH phải liên đới với Công ty FX bồi thường 04 tháng tiền lương với số tiền 8.500.000 đồng x 04 tháng = 34.000.000 đồng; Buộc Công ty FX phải đóng các khoản bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp cho ông Trần Thanh T đến ngày hết thời hạn ghi trong hợp đồng lao động 31/5/2022. Căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu nguyên đơn đã rút.

. kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ chấp nhận một phần.

. Về án phí: ông Trần Thanh T thuộc trường hợp được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Công ty FX và Công ty FH phải liên đới chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điểm a, Khoản 1, Điều 32, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 95, Điều 147, Điều 228, Điều 229, Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 14, 18, 20, 21, 39, 41, 90 và Điều 190 Bộ luật Lao động;

- Căn cứ Điều 12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh T đối với bị đơn Công ty FH và Công ty FX về việc yêu cầu Công ty FX phải hủy bỏ quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông Trần Thanh T và Công ty FH nhận lại làm việc. Trường hợp Công ty FH không nhận ông Trần Thanh T lại làm việc thì yêu cầu Công ty FH phải liên đới với Công ty FX bồi thường 04 tháng tiền lương với số tiền 8.500.000 đồng x 04 tháng = 34.000.000 đồng; Buộc Công ty FX phải đóng các khoản bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp cho ông Trần Thanh T đến ngày hết thời hạn ghi trong hợp đồng lao động 31/5/2022.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh T đối với bị đơn Công ty FH và Công ty FX về việc tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Buộc Công ty FH và Công ty FX phải liên đới bồi thường cho ông Trần Thanh T tổng số tiền 53.607.000 đồng (năm mươi ba triệu sáu trăm lẻ bảy nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn lại phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Án phí lao động sơ thẩm: Công ty FH và Công ty FX phải chịu số tiền 1.608.000 đồng (một triệu sáu trăm lẻ tám nghìn đồng).

4. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ