vanban.org

Bản án 11/2022/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng của Ngân hàng TMCP Bảo V đối với Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P.

Tuyên xử: Buộc Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P phải trả cho Ngân hàng TMCP Bảo V số tiền nợ của hai hợp đồng tính đến ngày 13/12/2022 là 1.170.325.180 đồng; trong đó nợ gốc 998.777.780 đồng, nợ lãi 104.705.469 đồng, nợ phí phạt quá hạn 66.841.931 đồng. Kể từ ngày tiếp theo (ngày 14/12/2022) … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "tranh chấp hợp đồng tín dung"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng của Ngân hàng TMCP Bảo V đối với Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P.
  • Căn cứ chính? Điều 4 Luật thương mại
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2022/KDTM-ST
Ngày: 13 - 12 - 2022
V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN- TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Dũng

2. Ông Mai Văn Ba

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Thư ký tòa án nhân dân Quận Ngũ Hành Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Trường Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2022/TLST-DS ngày 02 tháng 6 năm 2022 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2022/QĐXX-ST ngày 08 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Bảo V

Địa chỉ trụ sở: Số 16 Phan Chu T, phường Phan Chu T, quận Hoàn K, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Quyết T1- Chức vụ: Chủ tịch HĐQT. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức D - Chức vụ: Trưởng phòng KHDN-Bảo V BAk- Chi nhánh Đà Nẵng và/hoặc ông Nguyễn Quang V- Chức vụ: Chuyên viên chính P.KHDN Bảo V BAk- Chi nhánh Đà Nẵng; địa chỉ liên hệ: số 297 đường Đống Đ, phường Thạch T2, quận Hải C, TP. Đà Nẵng, theo giấy ủy quyền số 3971/2019/UQ-BVB ngày 07/10/2019 của Chủ tịch HĐQT Ngân hàng thương mại cổ phần Bảo V và giấy ủy quyền số 266/2022/UQ-BVB ngày 10/7/2022 của Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Bảo V- Chi nhánh Đà Nẵng- Ông V có mặt;

2. Bị đơn: Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P

Địa chỉ trụ sở: 23 Hàm T3, phường Mỹ A, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật bà Mai Nữ Lan N- Chức vụ: Giám đốc- Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 10/3/2022, bản tự khai cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Bảo V, ông Nguyễn Quang V trình bày:

Công ty TNHH Vận chuyển quốc tế Trọng P vay vốn tại BAOVIET BAk theo (i) Hợp đồng tín dụng (cho vay từng lần đối với khách hàng là pháp nhân) số 0019/2019/HĐTD1/BVB32 ký ngày 04/7/2019 và (ii) Hợp đồng tín dụng là (cho vay từng lần đối với khách hàng là pháp nhân) số 0024/2019/HĐTD1/BVB32 ký ngày 30/7/2019, cụ thể như sau:

- Hợp đồng 0019/2019/HĐTD1/BVB32 ký ngày 04/7/2019, số tiền cho vay 1.000.000.000 đồng; mục đích vay mua xe ô tô con KIA SEDONA 2.2 DATHFL, ngày rút vốn 05/7/2019; thời hạn vay 60 tháng; lãi suất vay 6.99%/năm trong 03 tháng đầu tiên. Từ tháng thứ 04, lãi suất được điều chỉnh bằng lãi suất huy động tiền gửi 12 tháng trả lãi sau do Ngân hàng thông báo tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 3%/năm, kỳ hạn chỉnh + biên độ 3%/năm, kỳ hạn điều chỉnh lãi suất 03 tháng/lần. điều chỉnh lãi suất 03 tháng/lần. Các kỳ trả nợ, lãi suất cho vay được được quy định cụ thể trong Hợp đồng tín đồng tín dụng, Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi, (các) khế ước nhận nợ và các văn bản khác đã ký kết; lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại tời điểm chuyển nợ quá hạn.

Tài sản đảm bảo: 01 xe ô tô con thuộc sở hữu của Công ty TNHH Vận chuyển Quốc tế Trọng P, nhãn hiệu: KIA, số khung: 52A8KC156618, máy: D4HBJH881410, biển số đăng ký: 43A-471.91, màu sơn: đen, số chỗ ngồi: 7 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 077101 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an TP. Đà Nẵng cấp ngày 03/7/2019 (Đăng ký lần đầu ngày 03/7/2019). Tài sản bảo đảm được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: 0023/2019 BĐ1/BVB32 ngày 04/7/2019, số công chứng: 5627, quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD lập tại Văn phòng công chứng Sông Hàn và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

- Hợp đồng 0024/2019/HĐTD1/BVB32 ký ngày 30/7/2019, số tiền cho vay 530.000.000 đồng; mục đích vay mua xe ô tô Ford RAger XLS 4x2 AT, ngày rút vốn: 31/7/2019; thời hạn cho vay: 60 tháng; lãi suất vay: 6.99%/năm trong 03 tháng đầu tiên. Từ tháng thứ 04, lãi suất được điều chỉnh bằng lãi suất huy động tiền gửi 12 tháng trả lãi sau do Ngân hàng thông báo tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 3%/năm, kỳ hạn điều chỉnh lãi suất 03 tháng/lần. Các kỳ trả nợ, lãi suất cho vay được được quy định cụ thể trong Hợp đồng tín đồng tín dụng, Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi, (các) khế ước nhận nợ và các văn bản khác đã ký kết; lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Tài sản đảm bảo: 01 xe ô tô tải thuộc sở hữu của Công ty TNHH Vận chuyển Quốc tế Trọng P, nhãn hiệu: FORD, số khung: FF80KW954147, số máy: P4AT2761355, biển số đăng ký: 43C-218.22, màu sơn: xanh, số chỗ ngồi: 5 theo Giấy chứng nhận đăng đăng ký xe ô tô số 078517 do Phòng Cảnh sát Giao thông - Công an TP. Đà Nẵng cấp ngày 26/7/2019 (Đăng ký lần đầu ngày 26/7/2019). Tài sản bảo đảm được thể chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 0026/2019/BĐ1/BVB32 ngày 30/7/2019, số công chứng: 6109, quyển số : 01 TP/CC-SCC/HĐGD lập tại phòng công chứng Sông Hàn và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Trong quá trình trả nợ vay, Công ty Trọng P đã vi phạm nghĩa vụ thAh toán nợ cho BAOVIET BAk. Sự vi phạm nghĩa vụ của Công ty đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của BAOVIET BAk.

Tạm tính đến ngày 13/12/2022, Công ty Trọng P còn nợ BAOVIET BAk tổng số tiền là: 1.170.325.180 đồng, cụ thể:

- HĐTD số 0019/2012/HĐTD1/BVB32 ký ngày 04/7/2019. Tổng dư nợ phải trả tạm tính là: 749.988.710 đồng; trong đó: Nợ gốc: 645.457.780 đồng; nợ lãi: 62.301.400 đồng; nợ phí phạt quá hạn TH: 42.229.530 đồng.

- HĐTD số 0024/2019/HĐTD1/BVB32 ký ngày 30/7/2019. Tổng dư nợ phải trả tạm tính là: 420.336.470 đồng; trong đó: Nợ gốc: 353.320.000 đồng; nợ lãi: 42.404.069 đồng; nợ phí phạt quá hạn TH: 24.612.401 đồng.

Từ những nội dung trình bày ở trên, BAOVIET BAk đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau đối với Công ty Trọng P:

Buộc Công ty Trọng P thanh toán cho BAOVIET BAk tổng số tiền tạm tính đến ngày 13/12/2022 theo các Hợp đồng tín dụng, cụ thể:

- HĐTD số 0019/2012/HĐTD1/BVB32 ký ngày 04/7/2019. Tổng dư nợ phải trả tạm tính là: 749.988.710 đồng; trong đó: Nợ gốc: 645.457.780 đồng; nợ lãi: 62.301.400 đồng; nợ phí phạt quá hạn: 42.229.530 đồng.

- HĐTD số 0024/2019/HĐTD1/BVB32 ký ngày 30/7/2019. Tổng dư nợ phải trả tạm tính là: 420.336.470 đồng; trong đó: Nợ gốc: 353.320.000 đồng; nợ lãi: 42.404.069 đồng; nợ phí phạt quá hạn: 24.612.401 đồng.

Công ty Trọng P còn phải thanh toán các khoản tiền lãi, tiền phạt theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng trên tổng số tiền chưa thanh toán kể từ ngày 14/12/2022 đến ngày Công ty Trọng P thanh toán hết các nghĩa vụ cho BAOVIET BAk.

Trường hợp kể từ ngày Bản án/Quyết định của Tòa án có hiệu lực mà Công ty Trọng P không thanh toán toàn bộ khoản nợ cho BAOVIET BAk, BAOVIET BAk có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ gồm:

+ 01 xe ô tô con thuộc sở hữu của Công ty TNHH Vận chuyển Quốc tế Trọng P nhãn hiệu: KIA, số khung: 52A8KC156618, số máy: D4HBJH881410, biển số đăng ký: 43A-471.91, màu sơn: đen, số chỗ ngồi: 7 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 077101 do Phòng Cảnh sát Giao thông - Công an TP. Đà Nẵng cấp ngày 03/7/2019 (Đăng ký lần đầu ngày 03/7/2019). Tài sản bảo đảm được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: 0023/2014/BĐ1/BVB32 ngày 04/7/2019, số công chứng: 5627, quyển số: 01 TP/CCSCCHĐGD lập tại Văn phòng công chứng Sông Hàn và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

+ 01 xe ô tô tải thuộc sở hữu của Công ty TNHH Vận chuyển Quốc tế Trọng P, nhãn hiệu: FORD, số khung: FF80KW954147, số máy: P4AT2761355, biển số đăng ký: 43C-218.22, màu sơn: xanh, số chỗ ngồi: 5 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 078517 do Phòng Cảnh sát Giao thông - Công an TP. Đà Nẵng cấp ngày 26/7/2019 (Đăng ký lần đầu ngày 26/7/2019). Tài sản bảo đảm được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: 0026/2014/BĐ1/BVB32 ngày 30/7/2019, số công chứng: 6109, quyển số: 01 TP/CCSCC/HĐGD lập tại Văn phòng công chứng Sông Hàn và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Bị đơn Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P đã được tòa án tiến hành thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự trình bày ý kiến, cung cấp các chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, nhưng đều vắng mặt nên tòa án không có lời khai.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng, phát biểu ý kiến về việc Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện cơ bản đầy đủ và đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Riêng bị đơn là Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình khi vắng mặt tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 4 Luật thương mại, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 466, 468, Điều 303 Bộ luật dân sự; Điều 26, Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Bảo V đối với Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P.

Buộc Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P phải trả cho Ngân hàng TMCP Bảo V số tiền tính đến ngày 13/12/2022 là 1.170.325.180 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong mọi khoản nợ;

Trường hợp Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P không trả số tiền trên cho Ngân hàng TMCP Bảo V thì yêu cầu Toà án xử lý tài sản đã thế chấp là 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu: KIA, loại xe: ô tô con, màu sơn: đen, biển số đăng ký: 43A-471.91, số máy: D4HBJH881410, số khung: 52A8KC156618, số loại: Sedona, dung tích: 2199, do Phòng Cảnh sát giao thông Công an TP. Đà Nẵng cấp ngày 03/7/2019 đứng tên Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P và 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu: FORD, loại xe: tải pickup cabin kép, màu sơn: xanh, biển số đăng ký: 43C-218.22, số máy: P4AT2761355, số khung: FF80KW954147, số loại: Ranger, dung tích: 2198, do Phòng Cảnh sát giao thông Công an TP. Đà Nẵng cấp ngày 26/7/2019 đứng tên Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP Bảo V.

Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả trAh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP Bảo V nộp tại Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng và Tòa án đã thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 30; Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa bị đơn là Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy trong qúa trình giải quyết vụ án, tòa án đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn đầy đủ. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. [2]

Về nội dung vụ án: Do có nhu cầu vay tiền để mua xe ô tô nên vào ngày 04/7/2019 Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P và Ngân hàng TMCP Bảo V ký hợp đồng tín dụng số 0019/2019/HĐTD1/BVB32 để vay số tiền 1.000.000.000 đồng; mục đích vay mua xe ô tô con KIA SEDONA 2.2 DATHFL, ngày rút vốn 05/7/2019; thời hạn vay 60 tháng; lãi suất vay 6.99%/năm trong 03 tháng đầu tiên. Từ tháng thứ 04, lãi suất được điều chỉnh bằng lãi suất huy động tiền gửi 12 tháng trả lãi sau do Ngân hàng thông báo tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 3%/năm, kỳ hạn chỉnh + biên độ 3%/năm, kỳ hạn điều chỉnh lãi suất 03 tháng/lần, điều chỉnh lãi suất 03 tháng/lần. Các kỳ trả nợ, lãi suất cho vay được được quy định cụ thể trong Hợp đồng tín đồng tín dụng, Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi, khế ước nhận nợ và các văn bản khác đã ký kết; lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại tời điểm chuyển nợ quá hạn.

Ngày 30/7/2019 Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P và Ngân hàng TMCP Bảo V tiếp tục ký hợp đồng tín dụng số 0024/2019/HĐTD1/BVB32 để vay số tiền 530.000.000 đồng; mục đích vay mua xe ô tô Ford Ranger XLS 4x2 AT, ngày rút vốn: 31/7/2019; thời hạn cho vay: 60 tháng; lãi suất vay: 6.99%/năm trong 03 tháng đầu tiên. Từ tháng thứ 04, lãi suất được điều chỉnh bằng lãi suất huy động tiền gửi 12 tháng trả lãi sau do Ngân hàng thông báo tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 3%/năm, kỳ hạn điều chỉnh lãi suất 03 tháng/lần. Các kỳ trả nợ, lãi suất cho vay được được quy định cụ thể trong Hợp đồng tín đồng tín dụng, Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi, khế ước nhận nợ và các văn bản khác đã ký kết; lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Để đảm bảo cho các khoản nợ vay trên Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P đã thế chấp là 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu: KIA, loại xe: ô tô con, màu sơn: đen, biển số đăng ký: 43A-471.91, số máy: D4HBJH881410, số khung: 52A8KC156618, số loại: Sedona, dung tích: 2199, do Phòng Cảnh sát giao thông Công an TP. Đà Nẵng cấp ngày 03/7/2019 đứng tên Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P và 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu: FORD, loại xe: tải pickup cabin kép, màu sơn: xanh, biển số đăng ký: 43C-218.22, số máy: P4AT2761355, số khung: FF80KW954147, số loại: Ranger, dung tích: 2198, do Phòng Cảnh sát giao thông Công an TP. Đà Nẵng cấp ngày 26/7/2019 đứng tên Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng Ngân hàng TMCP Bảo V đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu của Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P nhưng Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình mà đã vi phạm các cam kết về nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi cho Ngân hàng; từ khi vay đến nay Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P đã thanh toán cho Ngân hàng được tổng số tiền là 814.779.626 đồng; trong đó tiền gốc đã trả được 531.222.220 đồng; tiền lãi đã trả được 283.557.406 đồng.

Tính đến ngày 13/12/2022, Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P còn nợ Ngân hàng TMCP Bảo V tổng số tiền là 1.170.325.180 đồng của hai hợp đồng, cụ thể:

HĐTD số 0019/2012/HĐTD1/BVB32 ký ngày 04/7/2019. Tổng dư nợ phải trả tạm tính là: 749.988.710 đồng; trong đó: Nợ gốc: 645.457.780 đồng; nợ lãi: 62.301.400 đồng; nợ phí phạt quá hạn: 42.229.530 đồng.

HĐTD số 0024/2019/HĐTD1/BVB32 ký ngày 30/7/2019. Tổng dư nợ phải trả tạm tính là: 420.336.470 đồng; trong đó: Nợ gốc: 353.320.000 đồng; nợ lãi: 42.404.069 đồng; nợ phí phạt quá hạn: 24.612.401 đồng. [3] Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P phải trả cho Ngân hàng TMCP Bảo V tổng số tiền nợ của hai hợp đồng tính đến ngày 13/12/2022 là 1.170.325.180 đồng; trong đó nợ gốc 998.777.780 đồng, nợ lãi là 104.705.469 đồng, nợ phí phạt quá hạn 66.841.931 đồng. Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P còn thanh toán các khoản tiền lãi, tiền phạt theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng trên tổng số tiền chưa thanh toán kể từ ngày 14/12/2022 đến ngày Công ty Trọng P thanh toán hết các nghĩa vụ cho Ngân hàng TMCP Bảo V.

Nếu Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P không trả số tiền trên cho Ngân hàng TMCP Bảo V thì yêu cầu Toà án xử lý tài sản đã thế chấp là 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu: KIA, loại xe: ô tô con, màu sơn: đen, biển số đăng ký: 43A-471.91, số máy: D4HBJH881410, số khung: 52A8KC156618, số loại: Sedona, dung tích: 2199, do Phòng Cảnh sát giao thông Công an TP. Đà Nẵng cấp ngày 03/7/2019 đứng tên Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P và 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu: FORD, loại xe: tải pickup cabin kép, màu sơn: xanh, biển số đăng ký: 43C-218.22, số máy: P4AT2761355, số khung: FF80KW954147, số loại: Ranger, dung tích: 2198, do Phòng Cảnh sát giao thông Công an TP. Đà Nẵng cấp ngày 26/7/2019 đứng tên Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP Bảo V.

Xét thấy, việc Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P đã vi phạm cam kết trả nợ đối với Ngân hàng TMCP Bảo V nên đã gây thiệt hại cho Ngân hàng. Vì vậy, việc Ngân hàng TMCP Bảo V yêu cầu Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P trả nợ là hoàn toàn chính đáng và phù hợp, xét cần chấp nhận.

Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu: KIA, biển số đăng ký: 43A-471.91, số máy: D4HBJH881410, số khung: 52A8KC156618 đứng tên Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P và 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu: FORD, biển số đăng ký: 43C-218.22, số máy: P4AT2761355, số khung: FF80KW954147 đứng tên Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P, Tòa án đã ra quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ. Tuy nhiên, đại diện của nguyên đơn cũng không xác định được hiện nay chiếc ô tô đang ở đâu và ngày 02/8/2022 đại diện của nguyên đơn đã có công văn số 305/TB-BvB về việc chưa xác định được tài sản đảm bảo là đối tượng để xem xét, thẩm định tại chỗ nên đề nghị Tòa án không xem xét, thẩm định tại chỗ và căn cứ vào hợp đồng thế chấp đã ký kết giữa các bên để giải quyết vụ án. Do vậy, Tòa án căn cứ vào hợp đồng thế chấp xe ô tô số 0023/2019 BĐ1/BVB32 ngày 04/7/2019 và Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 26/2019/BĐ1/BVB32 ngày 30/7/2019 để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tại phiên tòa về căn cứ các điều luật áp dụng cũng như đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Bảo V đối với Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P là có căn cứ. [4] Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 0019/2019/HĐTD1/BVB32 ngày 04/7/2019; khế ước nhận nợ số 0019.01/2019/KUNN1/BVB32 ngày 04/7/2019 và hợp đồng thế chấp xe ô tô số 0023/2019/BĐ1/BVB32 ngày 04/7/2019 chiếc xe ô tô nhãn hiệu: KIA, loại xe: ô tô con, màu sơn: đen, biển số đăng ký: 43A-471.91, số máy: D4HBJH881410, số khung: 52A8KC156618, số loại: Sedona, dung tích: 2199, do Phòng Cảnh sát giao thông Công an TP. Đà Nẵng cấp ngày 03/7/2019 đứng tên Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P và Hợp đồng tín dụng số 0024/2019/HĐTD1/BVB32 ngày 30/7/2019; khế ước nhận nợ số 0024.01/2019/KUNN1/BVB32 ngày 30/7/2019 và hợp đồng thế chấp xe ô tô số 0026/2019/BĐ1/BVB32 ngày 30/7/2019 chiếc xe ô tô nhãn hiệu: FORD, loại xe: tải pickup cabin kép, màu sơn: xanh, biển số đăng ký: 43C-218.22, số máy: P4AT2761355, số khung: FF80KW954147, số loại: Ranger, dung tích: 2198, do Phòng Cảnh sát giao thông Công an TP. Đà Nẵng cấp ngày 26/7/2019 đứng tên Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P.

Căn cứ vào Điều 4 Luật thương mại. Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 và Điều 299, Điều 303 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử xét cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp theo quy định của pháp luật. [5] Về án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu theo giá ngạch là 36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng, đối với số tiền phải trả.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 4 Luật thương mại. Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Điều 463, 466, 468, 470 và Điều 299, 303 Bộ luật dân sự. Điều 147; khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Chấp nhận đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng của Ngân hàng TMCP Bảo V đối với Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P.

Tuyên xử: Buộc Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P phải trả cho Ngân hàng TMCP Bảo V số tiền nợ của hai hợp đồng tính đến ngày 13/12/2022 là 1.170.325.180 đồng; trong đó nợ gốc 998.777.780 đồng, nợ lãi 104.705.469 đồng, nợ phí phạt quá hạn 66.841.931 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo (ngày 14/12/2022) Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P còn thanh toán các khoản tiền lãi, tiền phạt theo thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng trên tổng số tiền chưa thanh toán cho đến ngày Công ty Trọng P thanh toán hết các nghĩa vụ cho Ngân hàng TMCP Bảo V.

Về xử lý tài sản thế chấp:

Tài sản 01: Tài sản thế chấp theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 077101 là chiếc xe ô tô nhãn hiệu: KIA, loại xe: ô tô con, màu sơn: đen, biển số đăng ký: 43A-471.91, số máy: D4HBJH881410, số khung: 52A8KC156618, số loại: Sedona, dung tích: 2199, do Phòng Cảnh sát giao thông Công an TP. Đà Nẵng cấp ngày 03/7/2019 đứng tên Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P. Tài sản bảo đảm được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: 0023/2019 BĐ1/BVB32 ngày 04/7/2019, số công chứng: 5627, quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD lập tại Văn phòng công chứng Sông Hàn và phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng ngày 04/7/2019.

Tài sản 02: Tài sản thế chấp theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 078517 là chiếc xe ô tô nhãn hiệu: FORD, loại xe: tải pickup cabin kép, màu sơn: xanh, biển số đăng ký: 43C-218.22, số máy: P4AT2761355, số khung: FF80KW954147, số loại: Ranger, dung tích: 2198, do Phòng Cảnh sát giao thông Công an TP. Đà Nẵng cấp ngày 26/7/2019 đứng tên Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P. Tài sản bảo đảm được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: 0026/2019/BĐ1/BVB32 ngày 30/7/2019, số công chứng: 6109, quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD lập tại Văn phòng công chứng Sông Hàn và phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng ngày 30/7/2019.

Tất cả các tài sản trên được xử lý theo quy định tại Điều 299, 303 Bộ luật dân sự để đảm bảo thi hành án.

Án phí dân sự sơ thẩm: 47.109.755 đồng, Công ty TNHH vận chuyển quốc tế Trọng P phải chịu.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Bảo V số tiền tạm ứng án phí đã nộp 22.497.000 đồng, theo biên lai thu số 001274 ngày 25/5/2022, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ