- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cám Dẩu T phạm tội "Cướp giật tài sản" - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Cám Dẩu T 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/7/2021.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2022/HS-ST Ngày 11-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thường Đông.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quang Tuấn.
Bà Trương Hồng Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Dương – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ
Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lại Thế Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 279/2021/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 268/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Cám Dẩu T (tên gọi khác: Sầu), sinh năm 1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 114/7/9 P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 17/2/47/22 L, Khu phố 6, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; con ông Cám Vinh Q và bà Sẩm Thị T; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/7/2021 đến nay;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa;
* Người tham gia tố tụng khác:
1. Bị hại: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1980 – có mặt.
Nơi cư trú: 17/15/10 đường số 1, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Người làm chứng:
2.1. Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1964 – vắng mặt.
Nơi cư trú: E1/18D ấp 5, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2. Ông Huỳnh Quốc T, sinh năm 2002 – vắng mặt.
Nơi cư trú: E12/8B ấp 5A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 21/7/2021, Cám Dẩu T điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius biển số 59D2-796.92 từ nhà tại Khu phố 6, Phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đi đến xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh để giải quyết công việc. Khi lưu thông đến đường Thới Hòa thuộc tổ 8, ấp 5, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, T nhìn thấy bà Nguyễn Thị Thanh T điều khiển xe mô tô biển số 55P8-1955 đang lưu thông phía trước cùng chiều, trên cổ T có đeo sợi dây chuyền màu vàng nên T nảy sinh ý định giật sợi dây chuyền của T để bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này, T điều khiển xe bám theo sau xe T, khi đến trước địa chỉ E2/43B thuộc tổ 8, ấp 5, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh thì T điều khiển xe rẽ trái qua đường, T liền điều khiển mô tô lên áp sát bên phải xe T và dùng tay trái giật sợi dây chuyền trên cổ T làm sợi dây chuyền bị đứt nhưng vẫn nằm trên cổ T. Do bị giật bất ngờ nên xe mô tô của T bị ngã phải trúng vào xe của T làm cả 2 xe loạng choạng tay lái. T bị ngã xuống đường và đứng dậy phía sau lưng xe của T, còn xe của T ngã đè lên xe của T. Lúc này T dùng chân trái đạp xe mô tô của T ngã xuống đường để điều khiển xe mô tô tăng ga bỏ chạy. T truy hô “Cướp cướp” và cùng người dân đuổi theo T khoảng 30 mét thì xe mô tô của T va chạm vào xe mô tô 3 bánh (không rõ biển số) do người đàn ông (không rõ lai lịch) điều khiển làm T cùng xe ngã xuống đường và bị ông Huỳnh Văn T và ông Huỳnh Quốc T bắt giữ cùng phương tiện gây án giao Công an xã Vĩnh Lộc A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh điều tra, xử lý.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 2690/KL-HĐĐGTS ngày 15/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Chánh kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng 18K hình bông mai dài khoảng 40cm và 01 mặt dây chuyền hình ngôi sao bằng vàng 18K, tổng trọng lượng 1,5 chỉ mà Cám Dẩu T cướp giật trị giá 5.417.538 đồng.
Vật chứng thu giữ:
- 01 sợi dây chuyền vàng cùng mặt dây chuyền, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Thanh T.
- 01 (một) xe mô tô Yamaha Sirius biển số 59D2-796.92, số máy: E3X9E508741, số khung: 3240JY188641.
- 01 áo sơ mi cổ tròn màu xám bị rách 02 bên bả vai cùng 01 quần kaki cọc màu xám nâu, là trang phục Cám Dẩu T mặc khi thực hiện hành vi cướp giật.
Về dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Thanh T đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường.
Tại Cáo trạng số: 213/CT-VKS ngày 18/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Cám Dẩu T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh thay đổi một phần quan điểm truy tố, xác định bị cáo phạm tội chưa đạt, bị cáo sử dụng xe mô tô để cướp giật tài sản, thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, ngoài ra còn cho rằng bị cáo không có hành hung bị hại để tẩu thoát nên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, Điều 15, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo từ Cám Dẩu T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”;
Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi cổ tròn màu xám bị rách 02 bên bả vai cùng 01 quần kaki cọc màu xám nâu; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 59D2-796.92; ghi nhận Cơ quan điều tra đã trả lại 01 sợi dây chuyền vàng cùng mặt dây chuyền cho bị hại Nguyễn Thị Thanh T;
Về dân sự: Ghi nhận bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.
Tại phiên tòa, bị cáo Cám Dẩu T khai nhận hành vi như nội dung vụ án nêu trên và trình bày bị cáo chỉ đạp xe bị hại ra để bỏ chạy, chứ không hành hung hay đạp vào người bị hại. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp nhất để sớm quay về với gia đình.
Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Thị Thanh T trình bày: Bị cáo giật dây chuyền của bị hại nhưng không lấy được vì dây chuyền bị đứt dính trên cổ áo bị hại. Do bị giật bất ngờ nên xe mô tô của bị hại bị ngã phải trúng vào xe của bị cáo làm cả 2 xe loạng choạng tay lái. Bị hại bị ngã xuống đường và đứng dậy phía sau lưng xe của bị cáo, còn xe của bị hại ngã đè lên xe của bị cáo và bị hại thấy bị cáo dùng chân trái đạp xe mô tô của bị hai ngã xuống đường và điều khiển xe tăng ga bỏ chạy; bị cáo không có đạp vào người bị hại và không có đánh hay tấn công bị hại. Bị hại đã nhận lại được tài sản bị cướp giật và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét thấy lời khai tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Cám Dẩu T đã thực hiện hành vi sử dụng xe mô tô biển số 59D2-796.92 áp sát bên phải xe bị hại Nguyễn Thị Thanh T và dùng tay trái giật sợi dây chuyền trên cổ bị hại làm sợi dây chuyền bị đứt nhưng vẫn nằm trên cổ bị hại vào ngày 21/7/2021 tại trước địa chỉ E2/43B thuộc tổ 8, ấp 5, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác. Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng vì tham lam, vụ lợi, muốn chiếm đoạt tài sản của bị hại để bán lấy tiền tiêu xài nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 5.417.538 đồng nhưng bị cáo dùng xe mô tô để cướp giật tài sản thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, là tình tiết định khung tăng nặng đối với bị cáo được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Cám Dẩu T phạm tội “Cướp giật tài sản” (thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt), tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại mà còn có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người khác và những người đang tham gia giao thông trên đường. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một khoảng thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, xét thấy tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
- 01 sợi dây chuyền vàng cùng mặt dây chuyền, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Thanh T nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- 01 (một) xe mô tô Yamaha Sirius biển số 59D2-796.92, số máy: E3X9E508741, số khung: 3240JY188641, qua xác minh do Cám Dẩu T đăng ký sở hữu sử dụng làm phương tiện đi cướp giật nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- 01 áo sơ mi cổ tròn màu xám bị rách 02 bên bả vai cùng 01 quần kaki cọc màu xám nâu, là trang phục Cám Dẩu T mặc khi thực hiện hành vi cướp giật, xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 của Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Thanh T đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, khung hình phạt đối với bị cáo cũng như đề nghị xử lý vật chứng vụ án và dân sự. Hội đồng xét xử cũng chấp nhận đề nghị của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt;
Hội đồng xét xử xét không chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” vì quá nghiêm khắc, không tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo.
Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15, Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử phạt bị cáo Cám Dẩu T 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/7/2021.
Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) áo sơ mi cổ tròn màu xám bị rách 02 bên bả vai cùng 01 (một) quần kaki cọc màu xám nâu.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô Yamaha Sirius biển số 59D2-796.92, số máy: E3X9E508741, số khung: 3240JY188641.
(các vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/11/2021 giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh)
Ghi nhận việc bị hại Nguyễn Thị Thanh T không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TPHCM (1); - Viện kiểm sát nhân dân TPHCM (1); - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh (2); - Công an huyện Bình Chánh (1); - Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh (1); - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an TPHCM (1); - Sở tư pháp TPHCM (1); - Trại tạm giam T30 (1); - Bị cáo (1); - Bị hại (1); - Lưu hs (1); - Lưu VT (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lý Thường Đông |