vanban.org

Bản án 11/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Nông Tuyên án 24/02/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/02/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Nguyễn Trọng Q cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện M, tỉnh Đắk Nông nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng Q - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Nguyễn Trọng Q cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện M, tỉnh Đắk Nông nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2022/HS-PT
Ngày 24 - 02 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Hương

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Chiến và bà Phạm Thị Thông

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Nga là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tố Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2021/TLPT-HS ngày 29 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Trọng Q, do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2021/HS-ST ngày 21 tháng 10 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Đắk Mil.

Bị cáo bị kháng cáo: Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1984 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện M, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang T và bà Trần Thị L; có vợ là Trần Thị P và 02 con; tại ngoại - Có mặt.

Bị hại có kháng cáo: Chị Trần Thị P, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn H, xã A, huyện M, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Ông Nguyễn Trung X; địa chỉ: Tổ dân phố 3, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 19-4-2021, sau khi Nguyễn Trọng Q đi uống rượu về thì gặp vợ là chị Trần Thị P tại nhà. Trong lúc nói chuyện, giữa Nguyễn Trọng Q và chị P xảy ra mâu thuẫn cãi nhau về chuyện nợ nần tiền bạc trong gia đình. Trong lúc bực tức, Nguyễn Trọng Q đã sử dụng 01 khay đựng thức ăn bằng kim loại (cao 07cm, đường kính 14cm) ném về phía chị P thì trúng vào trán trái của chị P gây thương tích. Sau đó, chị P được chị Đinh Thị H đưa đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế huyện M. Ngày 18-5-2021, chị P có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đề nghị xử lý Nguyễn Trọng Q theo quy định của pháp luật.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 163/TgT ngày 26-5-2021 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Đắk Nông kết luận: Chị Trần Thị P bị sẹo phần mềm vùng trán trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ 03%. Vết thương do bị vật tày có cạnh dạng hình cong tác động theo hướng từ trước ra sau gây nên.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2021/HS-ST ngày 21 tháng 10 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Đắk Mil đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Q 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Áp dụng các điều 584, 585 và 590 của Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Trọng Q phải bồi thường cho chị Trần Thị P số tiền 6.267.000 đồng. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 03-11-2021, bị hại kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không cho bị cáo được hưởng án treo và tăng mức bồi thường thiệt hại.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Trọng Q thừa nhận Tòa án nhân huyện Đắk Mil xử phạt bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị hại về phần hình phạt; chấp nhận một phần kháng cáo tăng mức bồi thường thiệt hại; sửa bản án về áp dụng pháp luật, áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo do bị cáo đã khắc phục hậu quả. Ghi nhận thỏa thuận bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 19.640.000đ, được trừ số tiền 3.000.000đ đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil.

Người đại diện theo ủy quyền của bị hại trình bày: Sau khi sự việc xảy ra, đến phiên tòa hôm nay, bị cáo mới nhận ra lỗi của mình và đồng ý bồi thường thêm thiệt hại. Bị hại ghi nhận thiện chí của bị cáo. Tuy nhiên, vẫn đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc để răn đe bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2021/HS-ST ngày 21 tháng 10 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Đắk Mil đã kết án bị cáo Nguyễn Trọng Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo của bị hại, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

. Về tố tụng: Ngày 21-10-2021, Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil xét xử sơ thẩm, ngày 03-11-2021, bị hại có đơn kháng cáo. Kháng cáo của bị hại gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được chấp nhận xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.

. Về nội dung:

Đối với kháng cáo không cho bị cáo hưởng án treo của bị hại, thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo mức hình phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo là tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và đúng quy định theo hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị hại không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới cho nội dung kháng cáo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo này của bị hại.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã tự nguyện thỏa thuận với nhau về số tiền bồi thường thiệt hại là 19.640.000đ. Xét thấy sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên không trái pháp luật nên HĐXX ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này.

. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02-12-2021, bị cáo đã nộp số tiền 3.000.000đ vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil để khắc phục hậu quả, do đó, cần sửa bản án sơ thẩm về phần áp dụng điều luật, áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

. Đối với bản án sơ thẩm, tại phần quyết định về trách nhiệm dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại nhưng không áp dụng trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định của Bộ luật Dân sự là thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.

. Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trần Thị P về phần hình phạt, chấp nhận một phần kháng cáo về trách nhiệm dân sự, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2021/HS-ST ngày 21 tháng 10 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Đắk Mil về phần trách nhiệm dân sự và áp dụng điều luật.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Trọng Q 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Cố ý gây thương tích”.

Giao bị cáo Nguyễn Trọng Q cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện M, tỉnh Đắk Nông nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 590, 592 của Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Trọng Q bồi thường cho bị hại chị Trần Thị P số tiền 19.640.000đ (Mười chín triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng), được trừ số tiền 3.000.000đ đã nộp vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil ngày 02-12-2021 (Theo Giấy nộp tiền mặt tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam Chi nhánh Đắk Nông – Phòng giao dịch huyện Đắk Mil).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ