vanban.org

Bản án 11/2022/HNGĐS-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lâm Hoàng Y về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn anh Trương Phước T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Hoàng Y được ly hôn với anh Trương Phước T. 2. Về con chung: Giao con chung là cháu Trương Gia B, sinh ngày 18/5/2019 cho chị Y được quyền trực tiếp trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trương Phước T tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lâm Hoàng Y về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn anh Trương Phước T.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 18/3/2022
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Văn Đông.

2. Bà Trần Thuý Nga.

- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Kim Lân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành – Kiểm Sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 339/2021/TLST – HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2021 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2022/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2022, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Lâm Hoàng Y, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Số nhà 27, phố 9, ấp 5, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Trương Phước T, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Khu 3, ấp 8, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

(Chị Yến và anh Tài vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Y trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T chung sống với nhau từ năm 2018, tự nguyện tiến tới hôn nhân, đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 218 ngày 10 tháng 12 năm 2018. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 sau đó thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường hay cãi nhau. Hai vợ chồng đã nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả, đến tháng 7 năm 2019 hai vợ chồng ly thân cho tới nay. Nay chị Y xác định tình cảm với anh T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Y yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về quan hệ con chung: Có 01 con chung là cháu Trương Gia B, sinh ngày 18/5/2019. Ly hôn chị Y yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và tạm thời không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về quan hệ tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết

* Lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn anh Trương Phước T trình bày:

Do anh T vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án nên không ghi nhận được lời khai của anh T.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ các quy đinh của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý đến phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử như sau: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Lâm Hoàng Y được ly hôn với anh Trương Phước T. Về con chung: Giao cháu Trương Gia B, sinh ngày 18/5/2019 cho chị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng; do chị Y không yêu cầu nên tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn không yêu cầu giải quyết tài sản chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày không có, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Y phải chịu theo quy định của pháp luật.

Đương sự không cung cấp, bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Chị Lâm Hoàng Y khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Trương Phước T, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Theo địa chỉ trong đơn khởi kiện và kết quả xác minh tại công an xã G, bị đơn anh Trương Phước Y có đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện đang sinh sống tại địa chỉ: khu 3, ấp 8, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về việc thu thập tài liệu, chứng cứ; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Y và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai và được cấp chứng nhận đăng ký kết hôn số 218/2018 ngày 10 tháng 12 năm 2018 nên áp dụng Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Y Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình tố tụng chị Y xác định giữa chị và anh T phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Hai vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 tới nay và không còn sống chung với nhau, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm chăm sóc cho ai nên tình cảm vợ chồng giữa chị Y và anh T đã không còn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án hòa giải nhưng anh T vẫn không đến Tòa án để làm việc như vậy thể hiện anh Y không quan tâm đến hôn nhân giữa anh T và chị Y. Qua xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị Y với anh T tại nơi cư trú và được địa phương cung cấp thông tin giữa chị Y với anh Tài có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm và đã ly thân từ năm 2019 tới nay. Như vậy, lời trình bày của chị Y và kết quả xác minh tại địa phương phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Y và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét chấp nhận yêu cầu của chị Yến ly hôn với anh T là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Y với anh T có 01 con chung là cháu Trương Gia B, sinh ngày 18/5/2019. Ly hôn chị Y có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu N, nguyện vọng của chị Y là chính đáng. Từ khi chị Y với anh T không còn chung sống với nhau thì con cháu B là do chị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện cháu B đang còn nhỏ và đang sinh sống ổn định với chị Y, hơn nữa anh T không lên Tòa làm việc, không ghi nhận được nguyện vọng của anh T về việc nuôi con chung. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Vì vậy, để đảm bảo cuộc sống của cháu B được ổn định, việc xem xét để ai trực tiếp nuôi con cần đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên nên Hội đồng xét xử giao con chung cho chị Y được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Anh T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh T thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Y không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung, anh T không lên Tòa làm việc và không ghi nhận được nguyện vọng của anh T nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án chị Y khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh T không đến Tòa án làm việc và không ghi nhận được ý kiến của anh T nên Hội đồng xét xử quyết định không xem xét giải quyết đối với yêu cầu chia tài sản khi ly hôn.

Về nợ chung: Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án chị Y khai không có, anh T không đến Tòa án làm việc và không ghi nhận được ý kiến của anh T nên Hội đồng xét xử quyết định không xem xét giải quyết đối với yêu cầu nợ chung.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Chị Lâm Hoàng Y chịu án phí hôn nhân gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 8 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án năm 2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lâm Hoàng Y về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn anh Trương Phước T.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Hoàng Y được ly hôn với anh Trương Phước T.

1.2. Về con chung: Giao con chung là cháu Trương Gia B, sinh ngày 18/5/2019 cho chị Y được quyền trực tiếp trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trương Phước T tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Trương Phước T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh T thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

1.3. Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

1.4. Về nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về án phí: Chị Lâm Hoàng Y phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà chị Y đã nộp tại biên lai số 0003307 ngày 22/11/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Chị Y đã nộp đủ án phí.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ