vanban.org

Bản án 11/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” của chị Trịnh Thị Thúy H đề ngày 22/12/2021.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị Thúy H được ly hôn với anh Lê Văn H. Về con chung: Giao cho chị Trịnh Thị Thúy H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, con Lê Trịnh Bảo Anh, sinh ngày 18/11/2018 cho đến khi con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” của chị Trịnh Thị Thúy H đề ngày 22/12/2021.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ KONTUM
TỈNH KONTUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2022/HNGĐ-ST.
Ngày: 23/3/2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Nghiên

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Phạm Văn Tiền.

2. Ông Vũ Duy Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đỗ Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân

dân thành phố Kon Tum.

Ngày 23 tháng 3 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Kon

Tum, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 446/2021/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị Thúy H, sinh năm 1984; Địa chỉ: 312 đường Sư Vạn Hạnh, phường Duy Tân, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. (Có mặt)

Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1973. Địa chỉ: 312 đường Sư Vạn Hạnh, phường Duy Tân, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 12 năm 2021, nguyên đơn chị Trịnh Thị Thúy H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị Thúy H và Anh Lê Văn H kết hôn ngày 01/3/2018, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Quang Trung, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh H thường xuyên có lời lẽ xúc phạm chị, thậm chí có lúc đánh đập chị. Năm 2020 chị Hiền đã gửi đơn ra Tòa xin ly hôn, nhưng sau đó do con đau ốm nên chị lại rút đơn về đoàn tụ gia đình để có điều kiện chăm sóc con được tốt hơn. Tuy nhiên chỉ được một thời gian ngắn vợ chồng lại tiếp tục xảy ra mâu thuẫn như trước đây và chị quyết định sống ly thân đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau, chị Hiền xin ly hôn anh H cũng đồng ý nên chị yêu cầu Tòa án xử cho chị được ly hôn với anh H theo nguyện vọng.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Trịnh Bảo Anh, sinh ngày 18/11/2018 chị Trịnh Thị Thúy H xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị Hiền không yêu cầu anh Lê Văn H đóng góp.

3. Về Tài sản chung: Chị Trịnh Thị Thúy H và anh Lê Văn H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn anh Lê Văn H: Theo đơn trình bày ý kiến và xin giải quyết, xét xử vắng mặt anh Lê Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn H công nhận năm 2018 kết hôn với chị Trịnh Thị Thúy H là đúng. Về mâu thuẫn vợ chồng xảy ra như chị Hiền trình bày là đúng. Nguyện vọng chị Hiền xin ly hôn anh cũng đồng ý.

Về con chung: Con Lê Trịnh Bảo Anh, sinh ngày 18/11/2018 anh Lê Văn H đồng ý giao cho chị Hiền được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, anh H thống nhất để lại tài sản chung cho chị Hiền nuôi con. Ngoài ra anh chỉ yêu cầu chị Hiền tạo điều kiện để cho anh được thực hiện quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Anh Lê Văn H và chị Trịnh Thị Thúy H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Chị Trịnh Thị Thúy H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn H hiện đang cư trú tại thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum. Trong quá trình giải quyết bị đơn anh Lê Văn H có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Lê Văn H.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Chị Trịnh Thị Thúy H và anh Lê Văn H tự nguyện kết hôn ngày 01 tháng 3 năm 2018, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Quang Trung, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Trịnh Thị Thúy H và anh Lê Văn H là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng về tình cảm không còn, chị Hiền xin ly hôn anh H cũng đồng ý chứng tỏ quan hệ hôn nhân của vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng và mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, việc chị Trịnh Thị Thúy H yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn H là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Trịnh Bảo Anh, sinh ngày 18/11/2018 hiện đang được chị Hiền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh Lê Văn H có ý kiến khi ly hôn giao cho chị Hiền được trực tiếp nuôi dưỡng, do đó xét giao cho chị Hiền được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Trịnh Bảo Anh, sinh ngày 18/11/2018 cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng nuôi con chị Hiền không yêu cầu anh H cấp dưỡng, nên HĐXX không xét.

Anh Lê Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về tài sản chung: Chị Trịnh Thị Thúy H và anh Lê Văn H tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản .

Về nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị Trịnh Thị Thúy H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1Điều 228 và Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” của chị Trịnh Thị Thúy H đề ngày 22/12/2021.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị Thúy H được ly hôn với anh Lê Văn H.

2. Về con chung: Giao cho chị Trịnh Thị Thúy H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, con Lê Trịnh Bảo Anh, sinh ngày 18/11/2018 cho đến khi con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Anh Lê Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Buộc chị Trịnh Thị Thúy H phải chịu án phí dân sư sơ thẩm là 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000529 ngày 23 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. Chị Trịnh Thị Thúy H đã nộp đủ án phí.

4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23-3-2022) nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ