vanban.org

Bản án 11/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H.

Về hôn nhân: Cho chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Ngọc V được ly hôn. Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Vũ Tiến Th, sinh ngày 29/7/2009 và Nguyễn Thị Kim Ng, sinh ngày 15/01/2016 cho chị Vũ Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị H - Nguyễn Ngọc V"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 5 - 2022
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Hương.

Ông Phan Đình Nguyện.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Trang – Là Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đặng Trường Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST – HNGĐ, ngày 05/5/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1981. Nơi ĐKHKTT: Xóm D, xã Tr, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện nay: Khu phố R, phường Ph, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1972. Nơi ĐKHKTT: Xóm D, xã Tr, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 04/4/2022, Bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Ngọc V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An vào ngày 14/11/2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, vợ chồng không cùng quan điểm sống, không tin tưởng lẫn nhau,vợ chồng thường xuyên cãi vã và xung đột, thậm chí là bạo lực gia đình. Mặc dù chị đã nhiều lần níu kéo, hàn gắn tình cảm nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không thay đổi. Nay chị thấy vợ chồng không còn tình cảm, không thể kéo dài cuộc hôn nhân này, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Ngọc V.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Ngọc V có hai người con chung là Nguyễn Vũ Tiến Th, sinh ngày 29/7/2009 và Nguyễn Thị Kim Ng, sinh ngày 15/01/2016. Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi hai con và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung. Vì anh V đang bị tạm giam tại Công an huyện N nên không đủ điều kiện nuôi con. Hiện tại chị có việc làm và thu nhập ổn định từ 15.000.000 đồng đến 17.000.000 đồng/tháng, đảm bảo các điều kiện để nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 28/4/2022, bị đơn anh Nguyễn Ngọc V trình bày: Anh thừa nhận về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn; mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn đúng như chị H đã trình bày; vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Vì vậy, chị H yêu cầu được ly hôn thì anh cũng đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung đúng như chị Vũ Thị H đã trình bày. Ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Vũ Tiến Th, còn Nguyễn Thị Kim Ng giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 19, 51, 56, 81. 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

Về hôn nhân: Cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Ngọc V; về con chung: Giao con chung Nguyễn Vũ Tiến Th, sinh ngày 29/7/2009 và Nguyễn Thị Kim Ng, sinh ngày 15/01/2016 cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ tuổi trưởng thành; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Ngọc V do chị H chưa yêu cầu. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Vũ Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn và giải quyết việc nuôi con chung với anh Nguyễn Ngọc V có địa chỉ cư trú tại xã Tr, huyện N, tỉnh Nghệ An nên đây là tranh chấp Hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An theo quy định khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo đúng quy định của pháp luật.

. Về hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Ngọc V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Q (nay là phường M, thị xã H) tỉnh Nghệ An vào ngày 14/11/2008, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống trong một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng trong quan điểm sống, vợ chồng không chia sẻ, không thông cảm cho nhau, mặc dù đã được gia đình hai bên nhiều lần tìm cách níu kéo để vợ chồng đoàn tụ nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện. Chị H và anh V đều khẳng định, hiện tại vợ chồng không còn tình cảm với nhau và đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa, mong muốn được ly hôn. Xét thấy, việc vợ chồng sống ly thân không quan tâm, chăm sóc nhau là vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân đã thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Vũ Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc V.

. Về con chung: Quá trình chung sống, chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Ngọc V đều thừa nhận có hai người con chung là Nguyễn Vũ Tiến Th, sinh ngày 29/7/2009 và Nguyễn Thị Kim Ng, sinh ngày 15/01/2016. Ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung; anh V có nguyện vọng được nuôi một người con chung là Nguyễn Vũ Tiến Th. Cháu Nguyễn Vũ Tiến Th có nguyện vọng được ở cùng với mẹ nếu bố mẹ ly hôn.

Xét thấy, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên là nghĩa vụ và quyền của cha mẹ; nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung của chị H và anh V là chính đáng. Tuy nhiên, việc giao con cho ai là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cần xem xét đến các điều kiện để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt tốt nhất cho con. Hội đồng xét xử thấy rằng: Hiện nay, chị H có việc làm và thu nhập ổn định; có điều kiện và thời gian chăm sóc con tốt hơn. Anh V đã bị khởi tố bị can và bị bắt tạm giam về hành vi “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”, do đó không đáp ứng được các điều kiện cần thiết để nuôi con. Vì vậy, để cuộc sống của con không bị ảnh hưởng đến tâm, sinh lý, nhằm đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt cho con, cần giao hai con chung cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ tuổi trưởng thành là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của con.

. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình thì “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Tuy nhiên, do chị H chưa yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung nên cần tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh V.

. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

. Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H.

1. Về hôn nhân: Cho chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Ngọc V được ly hôn.

2. Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Vũ Tiến Th, sinh ngày 29/7/2009 và Nguyễn Thị Kim Ng, sinh ngày 15/01/2016 cho chị Vũ Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Ngọc V do chị Vũ Thị H chưa yêu cầu.

Anh Nguyễn Ngọc V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, khi có yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004597 ngày 04/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Nghệ An (Chị Vũ Thị H đã nộp đủ tiền án phí).

4. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Ngọc V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ