vanban.org

Bản án 11/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn ly hôn của chị Hoàng Thị Thu Th, xử cho chị Hoàng Thị Thu Th và anh Trần Quang Đ được ly hôn.

Về con chung: Giao cả 02 con chung là Trần Hoàng Bảo Tr, sinh ngày 11/9/2007 và Trần Bảo N, sinh ngày 07/5/2015 cho chị Hoàng Thị Thu Th được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của các con. Anh Trần Quang Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Quyền đi lại thăm nom… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ chị Hoàng Thị Thu Th với bị đơn anh Trần Quang Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn ly hôn của chị Hoàng Thị Thu Th, xử cho chị Hoàng Thị Thu Th và anh Trần Quang Đ được ly hôn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÂM HÀ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 01/02/2023.
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Huấn

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Lài Thị Thu Hà;

Bà Trần Thị Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 375/2022/TLST-HNGĐ ngày 03/10/2022 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Thu Th, sinh năm 1992

Địa chỉ: Thôn Tân H, xã Tân V, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Anh Trần Quang Đ, sinh năm 1987

Địa chỉ: Số 113 Quang T, tổ dân phố Sơn H, thị trấn Đ, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

(Các đương sự đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nguyên đơn chị Hoàng Thị Thu Th trình bày: Chị và anh Trần Quang Đ xây dựng gia đình với nhau vào năm 2007 nhưng đến năm 2010 mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, dựa trên cơ sở tìm hiểu nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn thì cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc, thỉnh thoảng có xảy ra mâu thuẫn nhưng vẫn giải quyết được. Tuy nhiên, từ năm 2020 vợ chồng sống không hạnh phúc, phát sinh rất nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Đ không chung thủy, không quan tâm gia đình và thường xuyên đánh đập chị. Vợ chồng chị cũng đã nhiều lần nói chuyện với nhau nhưng mâu thuẫn không cải thiện được. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân. Nay chị Th xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Chị Th xác định, quá trình chung sống chị và anh Đ có 02 con chung là Trần Hoàng Bảo Tr, sinh ngày 11/9/2007 và Trần Bảo N, sinh ngày 07/5/2015. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cả hai con chung, chị không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Th xác định vợ chồng tự thỏa thuận với nhau về tài sản; đồng thời, quá trình chung sống vợ chồng không có nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai bị đơn anh Trần Quang Đ trình bày: Anh xây dựng gia đình với chị Hoàng Thị Thu Th vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, thỉnh thoảng có mâu thuẫn nhưng không lớn mà chỉ là những bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày. Vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị Th không nghe mà vẫn cố chấp bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống. Hiện nay vợ chồng đang sống ly thân. Nay chị Th yêu cầu ly hôn với anh thì anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đồng ý ly hôn với chị Th.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Hoàng Bảo Tr, sinh ngày 11/9/2007 và Trần Bảo N, sinh ngày 07/5/2015. Khi ly hôn, anh đề nghị Tòa án xem xét nguyện vọng của hai con chung, các cháu có nguyện vọng ở với ai thì người đó có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh không yêu cầu giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh Đ xác định vợ chồng tự thỏa thuận với nhau về tài sản; đồng thời vợ chồng cũng không có nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng do bị đơn vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Th, xử cho chị Th và anh Đ được ly hôn; đồng thời, giao cả 02 con chung là Trần Hoàng Bảo Tr, sinh ngày 11/9/2007 và Trần Bảo N, sinh ngày 07/5/2015 cho chị Hoàng Thị Thu Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của các con. Anh Trần Quang Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về án phí: Chị Hoàng Thị Thu Th phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Chị Hoàng Thị Thu Th và anh Trần Quang Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Thu Th và anh Trần Quang Đ xây dựng gia đình với nhau vào năm 2007, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 15/01/2010. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc, thỉnh thoảng có phát sinh bất đồng nhưng hai bên tự cải thiện được. Đến năm 2020 thì mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng hơn. Mặc dù vợ chồng đã trao đổi nhưng mâu thuẫn vợ chồng không cải thiện được nên chị Th làm đơn yêu cầu ly hôn với anh Đ. Nhận thấy, nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Th với anh Đ là do vợ chồng không tin tưởng nhau trong quan hệ tình cảm; không đồng cảm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống mà đôi lúc bất hòa đến xô xát. Mặc dù cả hai cùng tìm cách trao đổi, chia sẻ nhưng mâu thuẫn không cải thiện được mà ngày càng trầm tọng hơn nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay chị Th xác định, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh Đ cũng xác định không còn tình cảm với chị Th nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Th. Vì vậy, căn cứ Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Th, giải quyết cho chị Th và anh Đ được ly hôn là phù hợp.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị Hoàng Thị Thu Th và anh Phan Trần Quang Đ có 02 con chung là Trần Hoàng Bảo Tr, sinh ngày 11/9/2007 và Trần Bảo N, sinh ngày 07/5/2015. Khi ly hôn, chị Th yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, còn anh Đ đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo nguyện vọng của các con. Nhạn thấy, hiện nay cháu Trân và cháu Nhi đều trên 07 tuổi và đều có nguyện vọng ở với chị Th; hơn nữa, từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay các con chung đều ở với chị Th, các cháu học tập và phát triển bình thường. Do vậy, để đảm bảo điều kiện ổn định cho trẻ được chăm sóc, học tập và phát triển, cần giao cả 02 con chung là Trần Hoàng Bảo Tr, sinh ngày 11/9/2007 và Trần Bảo N, sinh ngày 07/5/2015 cho chị Hoàng Thị Thu Th được trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của các con chung là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Về tài sản chung: Chị Th và anh Đ đề nghị để vợ chồng tự thỏa thuận với nhau về tài sản; đồng thời, quá trình chung sống vợ chồng không có nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Thu Th phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn ly hôn của chị Hoàng Thị Thu Th, xử cho chị Hoàng Thị Thu Th và anh Trần Quang Đ được ly hôn.

2. Về con chung: Giao cả 02 con chung là Trần Hoàng Bảo Tr, sinh ngày 11/9/2007 và Trần Bảo N, sinh ngày 07/5/2015 cho chị Hoàng Thị Thu Th được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của các con. Anh Trần Quang Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Chị Hoàng Thị Thu Th phải chịu 300.000đ tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí chị Hoàng Thị Thu Th đã nộp theo biên lai nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003502 ngày 28 tháng 9 năm 2022 của Cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Chị Hoàng Thị Thu Th đã nộp đủ tiền án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lài Thị Thu Hà - Trần Thị Hằng

Trần Minh Huấn Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Lâm Đồng;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Lâm Hà;

- THA dân sự huyện Lâm Hà;

- UBND xã Tân Văn,

- Các đương sự;

- Lưu HSVA.

Trần Minh Huấn

Cỡ chữ