- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phạm Thị H xin ly hôn anh Lương Thái S"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Lương Thái S.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình xử giao; Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình xử giao; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình xử giao
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2022/HNGĐ-ST Ngày: 01-4-2022 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Hiên; bà Bùi Thị Ngoan
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Khánh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên
Ngày 01 tháng 4 năm 2022 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2022/TLST-HNGĐ ngày 13/01/2022 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2022/QĐST-HNGĐ ngày 16/3/2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1984
Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn N, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
2. Bị đơn: Anh Lương Thái S, sinh năm 1980
Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn A, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*) Tại đơn khởi kiện, lời khai và các tài liệu chứng cứ đã xuất trình, thì nguyên đơn là chị Phạm Thị H trình bày và có yêu cầu cụ thể như sau:
Chị và anh Lương Thái S tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 28/5/2013 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được 02 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống và tính tình không hòa hợp, anh S hay ghen vô cớ, không tôn trọng chị, không có trách nhiệm với gia đình. Mặc dù gia đình đã nhiều lần nói chuyện, khuyên bảo nhưng anh S không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Đến tháng 8/2013, chị về nhà mẹ đẻ tại xã C, huyện Đ sinh sống đến nay, vợ chồng cũng ly thân từ đó, mỗi người sống một nơi không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh S.
Chị và anh S có 01 con chung là Phạm Ngọc A, sinh ngày 20/01/2014, con đang ở cùng chị từ khi sinh ra đến nay, con đang học lớp 2 trường tiểu học xã C, huyện Đ. Ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con vì con đang học tập và có cuộc sống ổn định, chị không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Chị là lao động tự do, thu nhập hằng tháng ổn định từ 9.000.000đ đến 10.000.000đ/tháng.
Chị và anh S tự phân chia tài sản chung, không nợ ai tài sản gì, không có tài sản cho người khác vay. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*) Bị đơn là anh Lương Thái S không trình bày lời khai, vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
*) Bà Đỗ Thị Đ là mẹ đẻ chị Phạm Thị H trình bày:
Chị Phạm Thị H và anh Lương Thái S tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định, sau khi kết hôn được khoảng 03 tháng do vợ chồng mâu thuẫn nên chị H (lúc đó đang có thai) đã về nhà bà sinh sống cho đến nay. Mâu thuẫn giữa chị H và anh S là do anh S ghen tuông vô cớ, hay nghi ngờ chị H. Bà thấy vợ chồng khó có khả năng đoàn tụ, đề nghị Tòa án giải quyếtt theo quy định pháp luật.
Chị H và anh S có 01 con chung là cháu Phạm Ngọc A, sinh ngày 20/01/2014, từ khi sinh ra cháu ở cùng bà và chị H. Chị H và anh S ly hôn bà đề nghị Tòa án giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu A, bà và gia đình tiếp tục hỗ trợ chị Hoat trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc con. Chị H là lao động tự do, thu nhập khoảng 9.000.000đ/tháng.
Tài sản chung của chị H và anh S thì bà không rõ, vợ chồng không nợ ai tài sản gì.
*) Đại diện chính quyền địa phương nơi anh S cư trú cung cấp nội dung như sau:
Chị Phạm Thị H và anh Lương Thái S tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện K theo quy định pháp luật. Sau khi kết hôn, chị H và anh S sống cùng gia đình anh S, quá trình chung sống chị H và anh S đã xảy ra mâu thuẫn nhưng chưa đến mức địa phương phải can thiệp, nguyên nhân do đâu thì địa phương không rõ, chỉ biết chị H đã về quê ngoại ở huyện Đ sinh sống khoảng 7-8 năm nay. Việc chị H và anh S đoàn tụ hay ly hôn là do hai người quyết định, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Chị H và anh S có 01 con chung như chị H đã trình bày là đúng, hiện nay con đang ở cùng chị H. Việc nuôi con chung đề nghị Tòa án căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh của từng người, nguyện vọng của cháu và phù hợp quy định của pháp luật để giao cho người đó, đảm bảo quyền lợi cho các cháu. Về tài sản chung của chị H và anh S địa phương không nắm được, vợ chồng không nợ gì đối với các tổ chức, đoàn thể tại địa phương.
*) Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến tại phiên tòa giải quyết vụ án dân sự:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016:
+ Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Lương Thái S.
+ Về nuôi con chung: Giao cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng 01 con là Phạm Ngọc A, sinh ngày 20/01/2014; không đặt ra giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng cho con khi cần thiết.
+ Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
+ Chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm,.
+ Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ các đương sự để trình bày lời khai, tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng bị đơn là anh Lương Thái S không trình bày lời khai, vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa. Nguyên đơn là chị Phạm Thị H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự: Tòa án xét xử trong trường hợp vắng mặt các đương sự.
Về nội dung: Hôn nhân giữa chị Phạm Thị H và anh Lương Thái S được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã và xúc phạm nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống và tính tình không hòa hợp, anh S hay ghen vô cớ, không tôn trọng chị, không có trách nhiệm với gia đình. Do mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên chị H và anh S đã ly thân nhiều năm nay, mỗi người sống một nơi không còn quan tâm đến nhau nữa. Như vậy, mâu thuẫn giữa chị H và anh S là có thật và ngày càng căng thẳng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Lương Thái S là phù hợp quy định của pháp luật.
Về nuôi con chung: Chị H và anh S có 01 con chung là Phạm Ngọc A, sinh ngày 20/01/2014, con đang ở cùng chị H. Ly hôn, chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy: Chị H có chỗ ở, việc làm và thu nhập ổn định, con đang học tập và sinh sống ổn định, con có nguyện vọng được ở cùng chị H khi bố mẹ ly hôn, mặt khác, chị H còn được sự hỗ trợ của gia đình trong việc nuôi dưỡng và chăm sóc con. Vì vậy, chị Hoa có đủ điều kiện để nuôi dưỡng và chăm sóc con. Do đó, áp dụng các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình xử giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng con là phù hợp quy định của pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của con. Do chị H không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, anh S chưa có lời khai về tài sản nên không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Chị Phạm Thị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.
Căn cứ nhận xét trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147, 203, 235, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Lương Thái S.
2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là Phạm Ngọc A, sinh ngày 20/01/2014. Không đặt ra giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
Chị H và anh S có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
3. Về tài sản: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
4. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp tạm ứng lệ phí, án phí tại biên lai thu tạm ứng lệ phí số 0001541 ngày 13/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Thái Bình thành án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Kiến Xương; - Đương sự; - UBND xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình (Nơi ĐKKH); - UBND xã C, huyện Đ tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS huyện K; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Hồng Thái |