vanban.org

Bản án 11/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị BTH được ly hôn anh ĐVT.

Về con chung: Giao con chung tên là ĐTG, sinh ngày 14/10/2019 cho chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Giao con chung tên là ĐHH, sinh ngày 02/12/2015 cho anh ĐVT trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi co… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Án Huyền-Thắng"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị BTH được ly hôn anh ĐVT.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HN
TỈNH NA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:11/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 11 - 3 - 2022
V/v: Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HN, TỈNH NA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phan Hương;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà: Nguyễn Thị Yến;

2. Ông Nguyễn Văn Tường.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa, cán bộ Toà án nhân dân huyện HN, tỉnh NA.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HN, tỉnh Nghệ An: Bà Nguyễn Thị Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện HN, tỉnh NA xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 116/2021/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2022/QĐXX-ST ngày 07 tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2022/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2022giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị BTH, sinh năm: 1994; nơi đăng ký HKTT: Xóm 6, xã H, huyện HN, tỉnh NA. Có mặt.

- Bị đơn: Anh ĐVT, sinh năm: 1989; nơi đăng ký HKTT: Xóm 6, xã H, huyện HN, tỉnh NA. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn ngày 10 tháng 12 năm 2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn chị BTH trình bày: Chị và anh ĐVT đăng ký kết hôn vào ngày 23/6/2015 tại UBND xã H, huyện HN, tỉnh NA, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T có người phụ nữ khác. Nay xác định tình cảm không còn nên chị xin được ly hôn với anh ĐVT. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là ĐHH, sinh ngày 02 tháng 12 năm 2015; ĐTG, sinh ngày 14 tháng 10 năm 2019. Vợ chồng ly hôn chị H có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu ĐTG và anh ĐVT chăm sóc, nuôi dưỡng cháu ĐHH cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành. Chị H không yêu cầu bên cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản và các khoản nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên Tòa chị BTH giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn anh ĐVT: Không hợp tác và không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án nên không có lời khai.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn, không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39, khoản 2 Điều 227, Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho chị BTH được ly hôn anh ĐVT. Về con chung: Giao con chung tên là ĐTG, sinh ngày 14/10/2019 cho chị Huyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Giao con chung tên là ĐHH, sinh ngày 02/12/2015 cho anh ĐVT trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh T và chị H. Về tài sản và nợ chung: Chị H không yêu cầu nên Tòa không xem xét. Về án phí: Buộc chị BTH phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên Toà, xét thấy:

. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung”. Bị đơn có hộ khẩu đăng ký thường trú tại: Xã H, huyện HN, tỉnh NA. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện HN, tỉnh NA thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn có mặt tại địa phương nhưng không hợp tác. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện HN đã tiến hành niêm yết các thủ tục tố tụng, đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị BTH và anh ĐVT đăng ký kết hôn ngày 23/6/2015 tại UBND xã H, huyện HN, tỉnh NA không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn vợ chồng không có tiếng nói chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án chị BTH vẫn cương quyết ly hôn, anh ĐVT không hợp tác, không chấp hành theo triệu tập của Tòa án. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị BTH được ly hôn anh ĐVT.

. Về con chung: Xét nguyện vọng nuôi con chung của chị BTH chính đáng. Hiện tại, cháu ĐTG đang ở với mẹ, cháu ĐHH đang ở với bố. Cuộc sống sinh hoạt và học tập của các cháu đều đang ổn định và được đảm bảo. Cháu ĐTG dưới 36 tháng tuổi nên cần được mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng. Ngày 04 tháng 01 năm 2022 Tòa án đã tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương và được biết vợ chồng chị H đều yêu thương chăm sóc con chung không có sự ngược đãi. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị H, giao con chung tên là ĐTG, sinh ngày 14/10/2019 cho chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Giao con chung tên là ĐHH, sinh ngày 02/12/2015 cho anh ĐVT trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T và chị H.

. Tài sản và các khoản nợ: Chị BTH không yêu cầu nên Tòa không xem xét.

.Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội: Chị BTH phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị BTH được ly hôn anh ĐVT.

2. Về con chung: Giao con chung tên là ĐTG, sinh ngày 14/10/2019 cho chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Giao con chung tên là ĐHH, sinh ngày 02/12/2015 cho anh ĐVT trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T và chị H.

Vì lợi ích mọi mặt của con chung thì các bên đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị BTH phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị H đã nộp tại cơ quan Thi hành án Dân sự huyện HN theo biên lai thu tiền số 0003861 ngày 15 tháng 12 năm 2021. Chị Huyền đã nộp đủ.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ