- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị H- Lê Văn H"
- Tòa quyết gì? Về việc nuôi con chung chưa thành niên: Căn cứ các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; giao cho chị Phạm Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi con chung là Lê Thị Phương A, sinh ngày 07- 7- 2012; giao cho anh Lê Văn H tiếp tục trực tiếp nuôi con chung là Lê Phúc H, sinh ngày…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2022/HNGĐ-ST Ngày: 27- 01- 2022 V/v: Ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Hà Bắc.
Ông Phạm Xuân Trường.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thái Thưởng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuất - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 155/2021/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2021 về việc “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H; địa chỉ: Xóm A, xã B, huyện C, tỉnh Nam Định; "vắng mặt".
- Bị đơn: Anh Lê Văn H; địa chỉ: A, xã B, huyện C, tỉnh Nam Định; "vắng mặt".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn H tự nguyện tìm hiểu, kết hôn, đã được UBND xã B cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 23- 02- 2005. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng vài năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên hay xảy ra cãi vã. Mặt khác còn do anh H nghiện ma túy, dù cho chị và gia đình khuyên ngăn nhưng anh H không từ bỏ ma túy và không có trách nhiệm gì với vợ con. Từ đó chị sinh ra chán nản và đã sống ly thân với anh H được 07 năm nay. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh H, không còn cơ hội hàn gắn hạnh phúc nên chị xin ly hôn anh Lê Văn H.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lê Phúc H, sinh ngày 16- 8-2006 hiện đang ở với anh H và Lê Thị Phương A, sinh ngày 07- 7- 2012 hiện đang ở với chị. Khi ly hôn chị nhận nuôi con chung là Lê Thị Phương A và chị để anh H nuôi con chung là Lê Phúc H, chị không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Chị không đề nghị giải quyết.
Đối với anh Lê Văn H: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã giao, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H nhưng anh H không trình bày quan điểm và không đến của Tòa án để làm việc.
Con chung là cháu Lê Phúc H trình bày nguyện vọng được ở với anh H; cháu Lê Thị Phương A trình bày nguyện vọng được ở với chị Hạnh.
Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ tại xã B, huyện Giao Thủy; Việc kết hôn, chung sống vợ chồng, nuôi con chung như chị Phạm Thị H trình bày là đúng.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cho ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Lê Văn H. Căn cứ vào các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao con chung là Lê Thị Phương A, sinh ngày 07- 7- 2012 cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung là Lê Phúc H, sinh ngày 16- 8- 2006 cho anh Lê Văn H trực tiếp nuôi dưỡng; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Phạm Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lê Văn H được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Lê Văn H kết hôn hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng của chị Hạnh và anh H không có hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, anh H không đến Tòa án để làm việc, không tham gia hòa giải. Như vậy, mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị H và anh Lê Văn H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị H đối với anh Lê Văn H phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình.
Về việc nuôi con: Xác định vợ chồng chị Phạm Thị H và anh Lê Văn H có 02 con chung là Lê Phúc H, sinh ngày 16- 8- 2006 và Lê Thị Phương A, sinh ngày 07- 7- 2012. Căn cứ vào nguyện vọng của các con, điều kiện và yêu cầu của nguyên đơn; quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Hội đồng xét xử giao con chung là Lê Thị Phương A cho chị Phạm Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung là Lê Phúc H cho anh Lê Văn H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con, chị Hạnh không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Chị Hạnh, anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về án phí: Chị Phạm Thị H là nguyên đơn nên phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; xử cho ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Lê Văn H.
2. Về việc nuôi con chung chưa thành niên: Căn cứ các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; giao cho chị Phạm Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi con chung là Lê Thị Phương A, sinh ngày 07- 7- 2012; giao cho anh Lê Văn H tiếp tục trực tiếp nuôi con chung là Lê Phúc H, sinh ngày 16- 8- 2006. Chị Hạnh, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 kèm theo Danh mục án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc: Chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000035 ngày 14 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy. Chị Phạm Thị H đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh: 01 bản; - VKSND Tỉnh + Huyện: 02 bản; - Chi cục THADS Huyện: 01 bản; - UBND xã B: 01 bản; - Các đương sự: 02 bản; - Lưu hồ sơ: 02 bản; - Lưu văn phòng. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Duyên |