- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Út C"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Út C trả số nợ hụi 13.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 11/2022/DS-ST Ngày: 20/01/2022 V/v tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản và hợp đồng góp hụi. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Phương Nhung.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Trang;
- Ông Huỳnh Mộc Khải.
Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, là Thư ký Toà án nhân dân thành phố H, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Thoa, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 311/2021/TLST-DS ngày 18 tháng 11 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản và hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2021/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2021, giữa:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; nơi cư trú: tổ 15, khóm V, phường N, thành phố H, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Út C, sinh năm 1987, nơi cư trú: tổ 08, khóm V, phường N, thành phố H, tỉnh An Giang.
(Bà H, bà C, có mặt).
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà H có tham gia các dây hụi do bà Nguyễn Thị Út C làm chủ, cụ thể như sau:
- Dây hụi thứ nhất: hụi 500.000đồng, mở ngày 18/12/2020 âm lịch, chưa kết thúc hụi, hụi 10 ngày khui một lần, gồm 50 phần hụi, bà tham gia 01 phần. Bà góp hụi sống được 14 lần thì bà C bị bể hụi, bỏ đi, ngưng mở hụi. Tổng số tiền bà đã góp được cho dây hụi này 4.000.000đồng. Bà C còn nợ bà là 4.000.000đồng.
- Dây hụi thứ hai: hụi 2.000.000đồng/tháng, mở ngày 06/10/2020 âm lịch, chưa kết thúc hụi, gồm 22 hụi viên, bà tham gia 01 phần. Bà đã góp hụi sống cho bà C được 12 lần với số tiền là 14.000.000đồng. Bà C còn nợ bà là 14.000.000đồng.
- Dây hụi thứ ba: hụi 2.000.000đồng/tháng, mở ngày 06/10/2020 âm lịch bà mua hụi nên bà C còn nợ bà số tiền hụi là 27.700.000đồng.
- Dây hụi thứ tư: hụi 3.000.000đồng/tháng, mở ngày 28/8/2020 âm lịch, bà mua hụi nên bà C còn nợ bà số tiền hụi là 49.100.000đồng. Ngoài ra, bà H có cho bà C vay 01 (một) chỉ vàng 24 kara để dùng vào mục đích mua bán. Đến ngày 28/4/2021, bà C ngưng mở hụi đối với các dây hụi này. Tổng số tiền hụi mà bà C nợ lại của bà đối với các dây hụi trên là 94.800.000đồng và nợ vay 01 chỉ vàng 24kara. Theo đơn khởi kiện, bà yêu cầu bà C trả nợ hụi 107.800.000đồng, ngày 24/12/2021, bà H có đơn yêu cầu rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 13.000.000đồng. Vì vậy, bà H khởi kiện yêu cầu bà Út C có trách nhiệm thanh toán một lần cho bà số tiền nợ hụi 94.800.000đồng và nợ vay 01 chỉ vàng 24kara, không yêu cầu tính lãi. Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện: 04 danh sách hụi + 03 giấy giao hụi (bản photo). Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Út C trình bày: Bà H có tham gia hụi do bà làm chủ hụi theo các dây hụi như bà H trình bày, thống nhất có nhận và còn nợ hụi của bà H 94.800.000đồng và nợ vay 01 chỉ vàng 24kara. Bà C đồng ý trả cho bà H nợ hụi 94.800.000đồng và nợ vay 01 chỉ vàng 24kara nhưng do hoàn cảnh khó khăn, xin trả dần mỗi tháng 500.000đồng cho đến khi hết số tiền còn nợ. Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm. Bà H tự nguyện rút lại yêu cầu đối với số tiền nợ hụi 13.000.000đồng; chỉ yêu cầu bà C có trách nhiệm trả nợ hụi 94.800.000đồng và nợ vay 01 chỉ vàng 24kara, không yêu cầu tính lãi.
- Bị đơn thừa nhận nợ hụi, nợ vay của bà H là 94.800.000đồng và nợ vay 01 chỉ vàng 24kara, xin trả dần mỗi tháng 500.000đồng cho đến khi hết số tiền còn nợ.
- Ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Từ ngày 28/8/2020 âm lịch đến ngày 18/12/2020 âm lịch, bà H tham gia 04 dây hụi do bà C làm chủ. Bà C tự ý ngưng hụi và còn nợ lại bà H 94.800.000đồng; bên cạnh nợ hụi, bà C có vay của bà H 01 chỉ vàng 24kara. Hợp đồng hụi và hợp đồng vay giữa bà H với bà C được xác lập trên cơ sở tự nguyện và bà C thừa nhận còn nợ tiền hụi, tiền vay của bà H. Cho nên, bà H khởi kiện yêu cầu bà C trả số nợ hụi, nợ vay là phù hợp với quy định tại các Điều 351, 463, 466 và 471 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Theo đơn khởi kiện, bà H yêu cầu bà C trả số tiền nợ hụi 107.800.000đồng. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bà H rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ hụi 13.000.000đồng, chỉ yêu cầu bà C trả số nợ hụi 94.800.000đồng, trả nợ vay 01 chỉ vàng 24kara, không yêu cầu trả lãi nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đã bị rút.
Bà C thừa nhận có nợ bà H nợ hụi 94.800.000đồng, nợ vay 01 chỉ vàng 24kara và yêu cầu trả dần mỗi tháng 500.000đồng cho đến khi dứt nợ nhưng không được bà H đồng ý nên không có cơ sở xem xét.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/20219 của Ch Phủ về họ, hụi, biêu, phường; các Điều 351, 463, 466 và 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà H; buộc bà C có trách nhiệm trả cho bà H nợ hụi 94.800.000đồng và nợ vay 01 chỉ vàng 24kara; đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện bị rút đối với số tiền 13.000.000đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Út C trả nợ hụi và nợ vay. Bà C đang cư trú trên địa bàn thành phố H nên yêu cầu khởi kiện của bà H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố H theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Về nội dung: [2] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H cho rằng, bà H có tham gia 04 dây hụi do bà C làm chủ gồm: dây hụi 500.000đồng, mở ngày 18/12/2020 âm lịch, bà H tham gia 01 phần; dây hụi 2.000.000đồng/tháng, mở ngày 06/10/2020 âm lịch, bà H tham gia 01 phần; dây hụi 2.000.000đồng/tháng, mở ngày 06/10/2020 âm lịch, bà H mua hụi nên bà Út C còn nợ tiền hụi là 27.700.000đồng; dây hụi 3.000.000đồng/tháng, mở ngày 28/8/2020 âm lịch, bà H mua hụi nên bà Út C còn nợ tiền hụi là 49.100.000đồng; bên cạnh đó, bà H có cho bà Út C vay 01 (một) chỉ vàng 24 kara để dùng vào mục đích mua bán. Đến thời điểm ngưng 04 dây hụi, bà C nợ bà H tổng số tiền hụi 94.800.000đồng và nợ vay 01 chỉ vàng 24 kara. Bà C thừa nhận có làm chủ 04 dây hụi, bà H có tham gia 04 dây hụi này và có mua lại hụi như bà H trình bày. Bà C thừa nhận còn nợ bà H số tiền hụi, nợ vay như bà H trình bày. Vì vậy, có cơ sở xác định bà H có tham gia 04 dây hụi, có mua lại hụi đang tranh chấp do bà C làm chủ, có cho bà C vay 01 chỉ vàng 24kara và bà C còn nợ lại bà H số tiền hụi 94.800.000đồng, nợ vay 01 chỉ vàng 24kara. [3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo đơn khởi kiện, bà H yêu cầu bà C trả số tiền nợ hụi 94.800.000đồng, nợ vay 01 chỉ vàng 24kara. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bà H rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ hụi 13.000.000đồng, chỉ yêu cầu bà C trả số nợ hụi 94.800.000đồng, nợ vay 01 chỉ vàng 24kara, không yêu cầu trả lãi. Cho nên, Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện mà bà H đã rút theo Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà H, buộc bà C có trách nhiệm trả cho bà H nợ hụi 94.800.000đồng, nợ vay 01 chỉ vàng 24kara theo quy định tại các Điều 463, 466 và 471 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do bà H không yêu cầu trả lãi chậm thanh toán, có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử không đề cập đến. [4] Về phương thức thanh toán: Bà C yêu cầu được trả dần mỗi tháng 500.000đồng cho đến khi dứt nợ nhưng không được bà H chấp nhận. Cho nên, phương thức thanh toán sẽ được xem xét trong giai đoạn thi hành án. [5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Giá vàng ngày 20/01/2022 quy đổi thành tiền là 5.290.000đồng/01 chỉ vàng nữ trang 24kara. Do đó, bà C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán cho bà H là 5.004.500đồng. Bà H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; bà H là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn tạm ứng án phí nên được miễn nộp tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 463, 466, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Các Điều 147, 244 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Út C trả số nợ hụi 13.000.000đồng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.
Buộc bà Nguyễn Thị Út C có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị H số nợ hụi 94.800.000 (C mươi bốn triệu, tám trăm nghìn) đồng và nợ vay 01 chỉ vàng 24kara.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Út C phải chịu 5.004.500 (năm triệu, không trăm lẻ bốn nghìn, năm trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị H là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn tạm ứng án nên được miễn nộp tạm ứng án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị Út C có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP. H (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS TP.H (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phí Thị Phương Nhung |