vanban.org

Bản án 11/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Anh Diêm Công K phải có nghĩa vụ thanh toán trả anh Trịnh Đắc H số tiền là 85.

Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Trịnh Đắc Hùng - Diêm Công Kiên"
  • Tòa quyết gì? Anh Diêm Công K phải có nghĩa vụ thanh toán trả anh Trịnh Đắc H số tiền là 85.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VIỆT YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11 /2022/DS-ST
Ngày: 24/ 5 /2022
V/V: Tranh chấp Kiện đòi tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Vinh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Thân Văn Nhàn

Ông Dương Văn Toản

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Tuyên; Thư ký tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện VKSND huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:

Ông Ong Văn Chúc Kiểm sát viên

Trong ngày 23, 24 tháng 5 năm 2022. Tại trụ sở toà án nhân dân huyện Việt Yên, Tòa án nhân dân huyện Việt Yên đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 76/2021/TLST-DS ngày 09 tháng 12 năm 2022 về việc: “Tranh chấp Kiện đòi tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số; 12/2022/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2022, quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2022/QĐST-DS ngày 12/5/2022 giữa:

Nguyên đơn: Anh Trịnh Đắc H sinh năm 1984 có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: Phòng 206, tòa D6, khu đô thị Đ, huyện G, Tp Hà Nội.

HKTT: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang

Bị đơn: Anh Diêm Công K, sinh năm 1993.vắng mặt

Địa chỉ: Thôn X, xã H, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ, bản tự khai, các lời khai tại Toà án, anh Trịnh Đắc H trình bầy: anh và anh Diêm Công K không quan hệ họ hàng chỉ quan hệ quen biết nhiều năm do anh là giám đốc Công ty TNHH Máy may MH và anh Kiên là giám đốc Công ty TNHH Máy may KG cho nên ngày 16/04/2018. Giữa Công ty TNHH Máy may MH và Công ty TNHH Máy may KG có ký Hợp đồng mua bán số 1604/HĐKT ngày 16/4/2018 giữa Công ty TNHH máy may MH do anh Trịnh Đắc H – Giám đốc: Đại diện theo pháp luật và Công ty TNHH máy may KG do anh Diêm Công K – Giám đốc: Đại diện theo pháp luật cùng ký kết hợp đồng với nội dung: Công ty TNHH máy may KG bán cho Công ty TNHH máy may MH 20 máy may 2 kim cào hiệu Sunzitek, Model SZ4420 x 9.800.000 đồng/ chiếc và 20 chân mặt bàn + mô tơ điện tử x 1.900.000 đồng/ Bộ. Tổng giá trị hợp đồng là 234.000.000 đồng .

Trong quá trình thực hiện hợp đồng Công ty TNHH Máy may KG không cung cấp hàng hóa theo thỏa thuận. Sau đó anh K đề nghị anh chuyển vào tài khoản cá nhân của anh K số tiền là 85.000.000 đồng thì sẽ chuyển hết máy móc còn thiếu cho Công ty TNHH Máy may MH của anh theo hợp đồng đã nêu trên. Cho nên ngày 10/5/2018 anh đã chuyển vào số tài khoản của anh K là 43110000301430 của Ngân hàng BIDV số tiền 85.000.000 đồng. Đến nay anh K không thực hiện đúng hợp đồng với Công ty TNHH Máy may MH và cũng chưa trả anh số tiền anh đã chuyển cho anh K là 85.000.000 đồng.

Do vậy anh đề nghị anh K phải hoàn trả lại cho anh số tiền 85.000.000 đồng ngoài ra không yêu cầu gì khác.

* Bị đơn; anh Diêm Công K vắng mặt tại phiên tòa, vắng mặt tại các buổi tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, anh K không viết bản tự khai cũng như không cung cấp chứng cứ, không đến tòa án mặc dù Tòa án đã giao thông báo thụ lý, thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng anh K vẫn cố tình vắng mặt. Tòa án cũng đã giao quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho anh K đúng theo quy định của pháp luật nhưng anh K vẫn vắng mặt cho nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Việt Yên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, phiên tòa sơ thẩm đã đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.

- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về nội dung vụ án: Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 144; Điều 147; Điều 227, 228, 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, 280, 351, 385 khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự. Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án. Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc anh Diêm Công K có nghĩa vụ thanh toán trả anh Trịnh Đắc H số tiền là 85.000.000 đồng (Tám mươi lăm triệu đồng). Anh Diêm Công K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Anh Trịnh Đắc Hùng không phải chịu án phí dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã giao thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập anh Diêm Công K đến tòa án để tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được. Tòa án đã triệu tập phiên tòa hợp lệ 02 lần nhưng anh K vẫn vắng mặt không lý do cho nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh K là phù hợp với điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh H có đơn xin xét xử vắng mặt xét là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự .

Về xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án: Theo anh H trình bày do Công ty TNHH Máy may MH và Công ty TNHH Máy may KG đều kinh doanh Máy may và phụ tùng cho nên đã ký hợp đồng mua bán máy may cho nên khi thực hiện hợp đồng Công ty TNHH Máy may KG đã không thực hiện đúng theo thỏa thuận cho nên anh K là giám đốc Công ty TNHH Máy may KG yêu cầu anh chuyển cho anh K 85.000.000 đồng anh đã chuyển cho anh K 85.000.000 đồng theo giấy nộp tiền đề ngày 10/5/2018 nay anh K chưa trả anh cho nên anh yêu cầu anh K trả anh 85.000.000 đồng được xác định là quan hệ tranh chấp kiện đòi tài sản giữa anh H và anh K theo quy định tại khoản 3 điều 26 BLTTDS là phù hợp.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa anh H vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh K phải trả cho anh số tiền 85.000.000 đồng Thấy rằng: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ cũng như tại Tòa án anh H xuất trình các giấy tờ thể hiện việc anh K đã nhận được số tiền anh chuyển cho anh K và các chứng cứ do Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh tỉnh Bắc Giang. cũng như Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam chi nhánh Lưu xá cung cấp cho Toà án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang thì đã có đủ căn cứ để xác định anh Diêm Công K đã nhận được đầy đủ số tiền 85.000.000 đồng do anh Trịnh Đắc H chuyển qua số tài khoản 43110000301430 theo giấy nộp tiền đề ngày 10/5/2018 nhưng đến nay anh K chưa thanh toan trả anh H. Vì vậy yêu cầu khởi kiện của anh H buộc anh K trả 85.000.000đ là có căn cứ, phù hợp với Điều 116, 280, 357 Bộ luật dân sự cho nên yêu cầu của anh H cần được chấp nhận.

Về lãi suất chậm thi hành án: Do trong giao dịch dân sự các bên không thỏa thuận lãi suất chậm thi hành án thì việc tính lãi được tính kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Về án phí: Do yêu cầu của anh H được chấp nhận cho nên anh H không phải chịu án phí dân sự, hoàn trả anh H số tiền ứng án phí đã nộp. Anh K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên tham gia phiên tòa nhận xét quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn có ý thức chấp hành pháp luật bị đơn không chấp hành quy định của pháp luât và đề nghị chấp nhận yêu cầu của anh Hùng xét là phù hợp cần chấp nhận.

Từ lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 144; Điều 147; Điều 227, 228, 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, 280, 351, 385 khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; *Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trịnh Đắc H .

Anh Diêm Công K phải có nghĩa vụ thanh toán trả anh Trịnh Đắc H số tiền là 85.000.000 đồng (Tám mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

* Về án phí: Anh Diêm Công K phải chịu 4.250.000 đông án phí dân sự sơ thẩm. Anh Trịnh Đắc H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho anh Trịnh Đắc H 2.125.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0006119 ngày 06/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Việt Yên.

* Báo cho đương sự vắng mặt biết quyền được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ