vanban.org

Bản án 11/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” thụ lý số: 146/2021/TLST-DS ngày 13 tháng 4 năm 2021, giữa nguyên đơn Trần Thị Ngọc D với bị đơn Lê Văn T.

2/ Về án phí: Hoàn lại cho bà Trần Thị Ngọc D số tiền tạm ứng án phí là 3.187.000đ, theo biên lai số 0000106 ngày 12/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. 3/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Trần Thị Ngọc D"
  • Tòa quyết gì? 1/ Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” thụ lý số: 146/2021/TLST-DS ngày 13 tháng 4 năm 2021, giữa nguyên đơn Trần Thị Ngọc D với bị đơn Lê Văn T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2022/DS-ST
Ngày: 22/02/2022.
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Cúc

2. Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh

Thư ký phiên Tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Trang – Thư ký tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang: Bà Nguyễn Ngọc Trinh – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 18 và 22 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 146/2021/TLST-DS ngày 13 tháng 4 năm 2021 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2022/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 01 năm 2022, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc D, sinh năm 1991. (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Tạm trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

* Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1976. (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc D trình bày:

Vào ngày 05/4/2020 (nhằm ngày 13/3/2020 âm lịch) tôi có cho ông Lê Văn T vay số tiền là 127.500.000đ, không tính lãi suất. Khi vay ông T hẹn tôi đến ngày 03/7/2020 (nhằm ngày 13/5/2020 AL) thì ông T sẽ trả số tiền trên cho tôi.

Đến hẹn trả nợ tôi có yêu cầu ông T trả số tiền trên cho tôi nhưng ông T hứa hẹn nhiều lần mà không trả. Nay tôi yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Buộc ông Lê Văn T phải trả cho tôi số tiền 127.500.000đ, yêu cầu tính lãi từ ngày 04/7/2020 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm.

Ngày 18/02/2022 bà Trần Thị Ngọc D có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với ông Lê Văn T.

* Bị đơn Lê Văn T trình bày:

Khoảng tháng 6/2019 tôi có chơi số đề với vợ chồng ông Đ (là ba mẹ bà D) có thiếu nợ ông Đ khoảng 41.000.000đ. Đến khoảng tháng 4/2020 bà D có về thuê giang hồ đến nhà tôi bắt cóc tôi đến nhà ông Đ ép tôi ký giấy nợ tính vốn và lãi lên số tiền 80.000.000đ cộng thêm số tiền 40.000.000đ mà ông H nhờ ông Đ vay của người khác dùm cho ông H mà tôi đứng ra bảo lãnh cho ông H vay, nhưng ông H đã trả số tiền 47.000.000đ xong. Đến tháng 5/2020 bà D thuê giang hồ về đòi tôi phải trả số tiền 127.500.000đ và ép buộc tôi phải viết giấy nợ cho bà D, nếu tôi không ký thì không cho tôi về nhà, thấy vậy nên tôi mới đồng ý viết giấy nợ số tiền 127.500.000đ. Thực tế tôi không có qua lại và hỏi tiền của bà D, tôi chỉ thiếu vợ chồng ông Đ số tiền số đề là 41.000.000đ mà thôi.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tuân theo đúng pháp luật tố tụng.

- Về nội dung: Trong thời gian Hội đồng xét xử nghị án bà Trần Thị Ngọc D có đơn và ý kiến xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông Lê Văn T không có ý kiến đối với yêu cầu rút đơn khởi kiện của nguyên đơn, cũng không có yêu cầu phản tố, xét thấy đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin rút đơn khởi kiện và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 146/2021/TLST-DS ngày 13 tháng 4 năm 2021, giữa nguyên đơn Trần Thị Ngọc D với bị đơn Lê Văn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc D xác định đây là quan hệ tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét thấy, ngày 18/02/2022 Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án, sau khi nghị án nguyên đơn có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn không có ý kiến và không có yêu cầu phản tố. Thấy rằng việc nguyên đơn có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy là phù hợp.

[3] Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, 235 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

1/ Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” thụ lý số: 146/2021/TLST-DS ngày 13 tháng 4 năm 2021, giữa nguyên đơn Trần Thị Ngọc D với bị đơn Lê Văn T.

2/ Về án phí: Hoàn lại cho bà Trần Thị Ngọc D số tiền tạm ứng án phí là 3.187.000đ, theo biên lai số 0000106 ngày 12/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

3/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ