- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L phạm tội hiếp dâm - phạm tội hiếp dâm (điều 141 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Hiếp dâm”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 141 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2021/HSST Ngày 29-01-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trà Thanh Tùng.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Thanh Đình.
2. Bà Đoàn Thị Hoa Kiều.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Nam, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Võ Chí Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 112/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN L, sinh năm 1994; tại Quảng Ngãi.
Nơi cư trú: Thôn KG, xã HTĐ, huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nhân viên của Công ty cổ phần đô thị kinh doanh địa ốc ĐT QN; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn R và bà Nguyễn Thị A; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Về nhân thân:
- Ngày 29/12/2011, Nguyễn Văn L bị Công an xã Hành Tín Đông xử phạt hành chính với hình thức: “Cảnh cáo” về hành vi gây rối trật tự công cộng. Ngày 14/9/2013, bị Công an huyện Nghĩa Hành xử phạt hành chính với hình thức: “Cảnh cáo” về hành vi đánh nhau chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Ngày 07/11/2013, Nguyễn Văn L bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành xử phạt 12 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2013/HSST ngày 07/11/2013. Chấp hành xong hình phạt ngày 21/5/2014.
- Ngày 05/12/2019, Nguyễn Văn L thực hiện hành vi: “Hiếp dâm” tại xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghĩa Hành ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự vì bị hại rút đơn yêu cầu.
- Ngày 25/12/2019, Nguyễn Văn L thực hiện hành vi “Hiếp dâm” tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là thị xã Đức Phổ). Ngày 31/12/2019, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Đức Phổ khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Tuy nhiên, quá trình điều tra người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên đến ngày 15/01/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đức Phổ ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự, đình chỉ điều tra bị can đối với Nguyễn Văn L. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2020 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Bùi Thị Thúy H, sinh năm 1990.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Bùi Thị Thúy H: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1990 (Theo giấy ủy quyền ngày 28/01/2021).
Cùng địa chỉ: đường TH, xã TAT, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi. Ông Q có mặt.
Người làm chứng:
1/ Anh Nguyễn Hồng H, sinh năm 1992.
2/ Chị Phạm Thị N, sinh năm 1994.
3/ Chị Phạm Thị Lệ T, sinh năm 1994.
Cùng địa chỉ nơi công tác: tỉnh Quảng Ngãi.
Anh H, chị N, chị T, vắng mặt, đều có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn L là nhân viên của Công ty cổ phần đô thị kinh doanh địa ốc ĐT QN do ông Nguyễn Văn Q (SN: 1990) làm giám đốc.
Vào tối ngày 19/3/2020, ông Nguyễn Văn Q bị đau ruột thừa nên đến tầng 4 Bệnh viện đa khoa tư nhân Phúc Hưng để mổ, bà Bùi Thị Thúy H (là vợ ông Q và đang mang thai) đến chăm sóc cho ông Q. Bà H ngồi chờ ở ngoài hành lang tầng 4, lát sau Nguyễn Văn L đi một mình đến ngồi cạnh bà H và nói với bà H là chờ anh Q mổ xong mới về. Đến khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, bà H đứng dậy thì L hỏi bà H là đi đâu, bà H trả lời là đi vệ sinh. Lúc này, L nảy sinh ý định hiếp dâm bà H để thoả mãn dục vọng cá nhân nên L đi theo bà H đến phòng vệ sinh ở tầng 3. Nguyễn Văn L đứng chờ bên ngoài, sau khi vệ sinh xong, bà H mở cửa đi ra khoảng 3 đến 4 bước thì bị cáo L lại gần đứng đối diện dùng hai tay chụp nắm hai bắp tay và kéo, đẩy bà H vào phòng. Nguyễn Văn L khép hờ cửa, không khoá bên trong, dùng hai tay bóp cổ, ép sát bà H vào tường và nói: “Mày la lên thì tao bóp cổ cho mày chết” rồi hôn miệng, dùng lưỡi đưa vào trong miệng của bà H thì bị bà H cắn, bị cáo Ly tiếp tục siết cổ bà H mạnh hơn. Sau đó, bị cáo L dùng tay phải bóp cổ, còn tay trái luồng xuống kéo tuột quần ngoài, quần lót của bà H xuống để lộ âm hộ; Tiếp tục L dùng hai ngón tay của bàn tay trái (Ngón trỏ và ngón giữa) đút vào sâu bên trong âm hộ của bà H móc nhiều lần, khoảng 5 đến 7 lần, rồi dùng tay phải đè bà H ngồi xuống bồn cầu, tay trái mở khóa quần ngoài tuột xuống để lộ dương vật đang cương cứng ra bên ngoài (Bị cáo không mặc quần lót) và nói bà H: “Bú đi”, tức là yêu cầu bà H dùng miệng mút dương vật của L. Tuy nhiên, bà H không làm theo mà dùng hai tay đẩy mạnh từ dưới lên làm bung tay phải của L ra khỏi cổ và hét to: “Cứu tôi với, cứu tôi với”, sau đó bà H đứng dậy định bỏ chạy thì bị L dùng hai tay bóp cổ đẩy sát tường, mặt bà H lúc này hướng về phía cửa, L đứng đối diện sát bà H, lưng quay về hướng cửa. Cùng thời điểm này, anh Nguyễn Hồng H là bác sĩ trực đêm tại tầng 3 Bệnh viện nghe tiếng la hét của bà H nhiều lần nên đi tìm và đẩy cửa phòng vệ sinh nữ ra thì thấy bị cáo L đang bóp cổ bà H, từ phần hông xuống chân của L và bà H đều không mặc quần, bà H giãy giụa và nói: “Anh cứu em với, em đang có bầu 3 tháng”. Lúc này, vì thấy anh H nên L thả tay ra khỏi cổ bà H và kéo quần lên nói: “Anh đừng tin con đó, nó bị điên đó”. Trong lúc L kéo quần, bà H chạy về phía anh H đứng. Sau đó, L rời khỏi Bệnh viện, bà H được anh H dẫn đến phòng trực của nhân viên nữ Bệnh viện để ngủ.
Sau khi xảy ra sự việc, vì lý do chồng đang nằm viện nên bà H không báo cáo sự việc trên đến Cơ quan Công an, đến ngày 24/3/2020 bà H làm đơn trình báo gửi đến Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Quảng Ngãi, yêu cầu xử lý hành vi của Nguyễn Văn L theo pháp luật hình sự.
Ngày 25/3/2020, Cơ quan CSĐT - Công an TP Quảng Ngãi tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể bà Bùi Thị Thúy H như sau:
- 01 vết bầm tụ máu hình dáng không xác định ở vị trí mông trái, có kích thước: (3x2)cm.
- 01 vết bầm tụ máu hình dáng không xác định ở vị trí đầu đối trái, có kích thước: (2x1,5)cm.
- 01 vết bầm tụ máu hình dáng không xác định ở vị trí đùi phải, có kích thước: (4x2)cm.
- 01 vết bầm tụ máu có vảy da màu trắng, hình dáng không xác định, ở vị trí đầu gối phải có kích thước: (5x4)cm.
- Tại vùng cổ và các bộ phận khác trên cơ thể không phát hiện dấu vết khác thường.
Bà H trình bày, đây là những thương tích do Nguyễn Văn L sử dụng vũ lực đối với bà H tạo thành. Tuy nhiên, thương tích trên chỉ bị bầm nhẹ và không để lại sẹo nên bà H từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra. Do đó, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Quảng Ngãi không xem xét.
* Về tổn thương bộ phận sinh dục: Bà H trình bày đã quan hệ tình dục với chồng vào ngày 23/3/2020, đến ngày 24/3/2020 Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Quảng Ngãi tiếp nhận tố giác, nên không đủ căn cứ để trưng cầu giám định tình dục đối với bà H.
Sau khi xảy ra sự việc, Nguyễn Văn L bỏ trốn vào các tỉnh phía Nam, không xác định địa chỉ cụ thể. Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Quảng Ngãi đã ra Thông báo truy tìm, Quyết định truy nã đối với Nguyễn Văn L. Đến ngày 03/10/2020, Nguyễn Văn L trở về địa phương thì bị Công an huyện Nghĩa Hành bắt và giao bị cáo cho Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Quảng Ngãi để điều tra xử lý theo thẩm quyền.
* Kiểm tra hiện trƣờng vụ án:
Căn cứ vào lời khai của bị hại, người làm chứng, bị cáo và camera tầng 3 của Bệnh viện Đa khoa Phúc Hưng ghi nhận được, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Quảng Ngãi tiến hành kiểm tra hiện trường như sau:
Hiện trường xảy ra vụ án tại dãy nhà vệ sinh nữ ở góc Đông Bắc tầng 3 dãy nhà khám chữa bệnh của Bệnh viện đa khoa tư nhân PH.
Từ khu vực khoảng trống trước thang máy và cầu thang bộ của tầng 3 (Đối diện) khu nội soi, siêu âm có một lối đi rộng 1,1m chạy theo phương Bắc Nam, cuối lối đi này có 01 lối đi dọc theo phương Đông Tây rộng 3,5m đi qua dãy nhà vệ sinh nam, tiếp đến là dãy nhà vệ sinh nữ, cửa ra vào của dãy nhà vệ sinh nữ quay về hướng Nam giáp lối đi, có kích thước chiều cao là 2,6m, chiều rộng là 1,1m và không có cánh cửa. Góc Tây Nam của dãy nhà vệ sinh nữ có 02 bồn rửa tay kích thước: (1,5x0,6)m, cao cách nền 1,2m.
Phía trong khu vực rửa mặt và tiếp giáp với tường phía Bắc có 03 phòng vệ sinh đặt xí bệt có phương Bắc Nam, mỗi phòng vệ sinh có kích thước: (1,5x1,1)m, ngăn cách với nhau bằng vách gỗ ép khung kim loại bao bọc ngoài, chiều cao của các vách ngăn này là 2m, cao cách mặt nền 16cm, cửa ra vào vách này dạng 1 cánh bằng ván gỗ ép màu trắng đục.
Phòng vệ sinh ở góc Tây Bắc của dãy nhà vệ sinh nữ có cửa ra vào ở hướng Nam có khoá gạc lên xuống bằng kim loại (Khoá bên trong). Tại thời điểm kiểm tra thì khoá này hoạt động bình thường.
Sát tường phía Bắc và cách tường phía Tây 56cm có đặt 01 bệ cầu (Loại xí bệt) bên ngoài có ghi chữ “caesar”, bồn xả nước có kích thước: (70x37x20)cm, cao cách nền 40cm, bệ ngồi có kích thước: (54x44x38)cm và có nắp đậy bằng nhựa.
Tại thời điểm kiểm tra nhà vệ sinh nữ có 04 bóng điện tròn (Dạng đèn nê ông) gắn phía trên trần nhà, các bóng đèn này sáng bình thường.
* Giám định dữ liệu kỹ thuật số điện tử:
Ngày 06/8/2020, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi đã ra Bản kết luận giám định số: 587/KLGĐ-PC09, kết luận như sau:
Bên trong USB màu đỏ, bên ngoài có dòng chữ “DT101G2”, dung lượng 8GB gửi giám định có chứa 02 (Hai) đoạn video có tên: “Phuc hưng 1.mp4”, dung lượng 288MB, thời gian thể hiện trong video từ 23 giờ 40 phút 50 giây đến 23 giờ 59 phút 59 giây ngày 19/3/2020 và đoạn video có tên: “Phuc hung 2.mp4”, dung lượng 39,9MB, thời gian thể hiện trong video từ 00 giờ 08 phút 20 giây đến 00 giờ 10 phút 59 giây ngày 20/3/2020, bao gồm:
- Đoạn video có tên “Phuc hung 1.mp4” được trích xuất thành 15 hình ảnh đại diện.
- Đoạn video có tên “Phuc hung 2.mp4” được trích xuất thành 05 hình ảnh đại diện.
Sao chép 20 hình ảnh đại diện trích xuất và 02 (Hai) đoạn video có tên: “Phuc hung 1.mp4” và “Phuc hung 2.mp4” sang đĩa DVD.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Cơ quan CSĐT Công an TP Quảng Ngãi đã tiến hành thu giữ đoạn video ghi lại hình ảnh xảy ra sự việc tại hành lang tầng 3 Bệnh viện đa khoa Phúc Hưng vào lúc 23 giờ 40 phút ngày 19/3/2020 đến 23 giờ 59 phút ngày 19/3/2020. Nội dung đoạn camera phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và bị cáo.
* Phần dân sự trong vụ án: Bà Bùi Thị Thuý H yêu cầu Nguyễn Văn L bồi thường số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Tuy nhiên, gia đình bị cáo Nguyễn Văn L chỉ đồng ý bồi thường với điều kiện bà H rút đơn yêu cầu. Do đó, đến nay bị cáo Nguyễn Văn L chưa bồi thường cho bị hại.
Bản cáo trạng số 95/CT-VKS ngày 20-11-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Hiếp dâm” quy định tại khoản 1 Điều 141 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 141, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584, 592 Bộ luật Dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải bồi thường cho bà Bùi Thị Thuý H theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người làm chứng anh Nguyễn Hồng H, chị Phạm Thị N, chị Phạm Thị Lệ T đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng họ đã có lời khai trong quá trình điều tra và đã được cơ quan điều tra xác minh nên việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 23 giờ 40 phút ngày 19/3/2020 Nguyễn Văn Ly đã có hành vi dùng vũ lực nhằm thực hiện hành vi giao cấu trái với ý muốn của bị hại Bùi Thị Thúy H và bị bà H kêu la người đến cứu, sau đó anh Nguyễn Hồng H là bác sĩ trực đêm tại tầng 3 Bệnh viện đến nên L đã không thực hiện được hành vi giao cấu. Tuy không thực hiện được hành vi giao cấu nhưng Nguyễn Văn L đã có hành vi quan hệ tình dục khác, đó là dùng 02 ngón tay thọc sâu vào bên trong bộ phận sinh dục của bị hại.
Theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 3 của Nghị quyết số: 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao quy định về hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi, quy định như sau: “Hành vi quan hệ tình dục khác là dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: như ngón tay, ngón chấn, lưỡi …) dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, hậu môn của người khác”. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L đủ yếu tố cấu thành tội: “Hiếp dâm” quy định tại khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng số 95/CT-VKS ngày 20-11-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố đối với Nguyễn Văn L là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo Nguyễn Văn L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi giao cấu và quan hệ tình dục khác với bị hại là trái quy định của pháp luật. Chỉ vì mục đích muốn thỏa mãn nhu cầu về tình dục mà bị cáo bất chấp và coi thường pháp luật, cố ý thức thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền được bảo vệ thân thể, nhân phẩm, danh dự của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến thuần phong mỹ tục, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển bình thường về tâm, sinh lý của người khác. Do đó, hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm, phải có một mức hình phạt thích đáng và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung loại tội phạm này, đồng thời đảm bảo nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân không tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Tình tiết tăng nặng: Tại thời điểm Nguyễn Văn L thực hiện tội phạm, người bị hại Bùi Thị Thuý H đang mang thai, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, động cơ, mục đích của việc phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Văn L có 01 tình tiết giảm nhẹ, có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân không tốt. Do đó, cần xử phạt bị cáo ở mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn Q đại diện theo ủy quyền của bị hại bà Bùi Thị Thuý H yêu cầu Nguyễn Văn L bồi thường số tiền 14.900.000 đồng để bù đắp tổn thất về tinh thần cho bị hại. Bị cáo L đồng ý bồi thường số tiền này cho bà H. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu bồi thường của bị hại là có căn cứ nên chấp nhận. Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải bồi thường cho bà H 14.900.000 đồng để bù đắp tổn thất về tinh thần.
Đề nghị của Kiểm sát viên: Về tội danh, trách nhiệm dân sự là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Về hình phạt, Hội đồng xét xử cần phải xử phạt mức án tương xứng với hành vi phạm tội của Nguyễn Văn L.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và 745.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1, Điều 141; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Hiếp dâm”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 04 (Bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/10/2020.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584, 592 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải bồi thường cho bà Bùi Thị Thúy H khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần 14.900.000 đồng (Mười bốn triệu, chín trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và phải chịu 745.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật Thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND thành phố Quảng Ngãi; - CATP Quảng Ngãi (Bộ phận lưu trữ, NV); - CQCSĐT CATP Quảng Ngãi; - CQTHAHS CATP Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - Bị cáo và những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà ĐÃ KÝ Trà Thanh Tùng |