vanban.org

Bản án 11/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai Tuyên án 28/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ksor K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ksor K 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù, tính từ ngày 15 tháng 02 năm 2021. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự ; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ksor K về tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ksor K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ THIỆN
TỈNH GIA LAI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11 /2021/HS-ST
Ngày 28-05-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ksor H’Đuen.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Rmah Ét, cán bộ

Bà Nguyễn Thị Ánh Ngọc, giáo viên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Vi Văn Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28tháng 5năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2021/TLST-HS, ngày 12 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:

Ksor K: sinh năm 1994, tại Phú Thiện, Gia Lai; Nơi cư trú: Thôn P, xã Ia , huyện P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Siu D và bà Ksor H’C; tiền án; tiền sự: không; bị cáo đang bị tạm giữ tạm giam từ ngày 15/02/2021 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Bùi Thị Phượng – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị hại: Bà Siu H’Y, sinh năm: 1965; Trú tại: Tổ dân phố 7, thị trấn P, huyện P, Gia Lai. Có mặt

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Đình L, sinh năm 1988. Trú tại: Tổ dân phố 7, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

- Người làm chứng: Siu L, sinh năm 2007. Vắng mặt

- Người đại diện theo pháp luật của Siu L: Chị Siu H’B, sinh năm: 1998; Cùng

trú tại: Tổ dan phố 7, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Người phiên dịch: Ông Ksor Kun. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 14/02/2021, Ksor K từ xã Ia Piar, huyện Phú Thiện đến thị trấn Phú Thiện để nhổ mì thuê. Chiều cùng ngày sau khi đi làm về, K đến nhà Nguyễn Đình L mua rượu uống. Do quen biết từ trước nên sau khi mua rượu uống K rủ L đến ngôi nhà hoang đối diện nhà L để cùng uống rượu. Đến 20 giờ 00 cùng ngày sau khi uống rượu xong thì L về nhà ngủ, K đi bộ đến nhà bà Siu H’Y, ở tổ dân phố 7, thị trấn Phú Thiện, đến nơi thấy nhà bà H’Y đóng cửa đi ngủ nên K nảy sinh ý định trộm cắp bò của bà H’Y. Quan sát không có ai xung quanh, K lén lút đột nhập vào chuồng bò nhà bà H’Y. K thấy trong chuồng bò có một con bò cái đang có thai và một con bê đang bị buộc dây vào chuồng, bên cạnh có một con bê khác không bị buộc dây. Sau đó K tháo dây và dắt bò cái ra ngoài đường liên thôn để đi ra quốc lộ 25. K vừa dắt bò cái ra khỏi nhà bà H’Y một đoạn thì thấy có một con bê đi theo sau. Thấy vậy, K dắt và lùa luôn cả hai con bò đi. K tiếp tục dắt bò đi thêm được một đoạn cách nhà bà H’Y khoảng 120m thì có Siu L sinh năm 2007 (cháu bà H’Y) đi chơi về nhìn thấy. Do có ánh sáng đèn đường nên Siu L biết đó là bò nhà bà Siu H’Y nên L đến vị trí hai con bò thì K liền thả bò rồi bỏ chạy, Siu L dắt bò về nhà bà H’Y, đồng thời cùng người dân truy đuổi được K rồi giao cho Công an thị trấn Phú Thiện xử lý. Tại cơ quan Điều tra K đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình.

Tại kết luận định giá tài sản số 02 ngày 18/02/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai xác định: Trị giá con bò cái là 15.000.000 đồng và con bê là 7 000.000 đồng. Tổng trị giá hai con bò là 22.000.000 đồng.

Qua trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ; Một con bò cái 08 năm tuổi và một con bê 01 năm tuổi là tài sản bị trộm cắp trong vụ án. Xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên cơ quan điều tra đã trao trả lại hai con bò trên cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Siu H’Y, bà Siu H’Y đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 09 tháng 4 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Ksor K về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Ksor K từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

- Quan điểm bào chữa cho bị cáo: Hành vi của bị cáo phù hợp với nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Phú Thiện truy tố. Về tình tiết giảm nhẹ, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật còn hạn chế, tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Về hình phạt, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị xử phạt bị cáo không quá 07 tháng tù là phù hợp.

Quá trình tranh luận, đối đáp Kiểm sát viên, người bào chữa đều giữ nguyên quan điểm đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và về hình phạt.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tranh luận gì, xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 20 giờ 00 ngày 14/02/2021 Ksor K lén lút đột nhập vào chuồng bò nhà bà Siu H’Y, dắt trộm một con bò cái màu vàng 08 năm tuổi đang có thai và một con bê 01 năm tuổi. K dắt 02 con bò ra đường liên thôn cách nhà bà H’Y khoảng 120m thì bị Siu L nhìn thấy, K để bò lại rồi bỏ chạy, sau đó bị người dân truy tìm bắt giữ giao nộp cho công an.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 02/KL- HĐG ngày 18/02/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Phú Thiện đã xác định trị giá của hai con bò là 22.000.000 đồng.

Hành vi trên của Ksor K là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ đồng thời gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Ksor K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Về hình phạt: Sau khi xem xét, đánh giá, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là phạm tội là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tham lam tư lợi nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Đình L, sau khi cùng uống rượu với K thì L về nhà ngủ, L không tham gia với vai trò gì trong hành vi trộm cắp tài sản của K nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Về vật chứng của vụ án: Một con bò cái 08 năm tuổi và một con bê 01 năm tuổi là tài sản bị trộm cắp trong vụ án. Cơ quan điều tra đã trao trả lại hai con bò trên cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Siu H’Y, bà Siu H’Y đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cần buộc bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố bị cáo Ksor K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Ksor K 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù, tính từ ngày 15 tháng 02 năm 2021.

2.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự ; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,.

Buộc bị cáo Ksor K phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/5/2021) bị cáo, bị hạicó quyền kháng cáo, yêu cầu Tòa án tỉnh Gia Lai xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án, người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ