vanban.org

Bản án 11/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. An Khê, tỉnh Gia Lai Tuyên án 28/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Ơ phạm tội Trộm cắp tài sản ;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Ơ 12 tháng tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày vào trại chấp hành án. Về dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Đình Ơ phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị D1 số tiền 2.000.000đ hai tri u đồng) và anh Nguyễn Đình T số tiền 700.000đ bảy trăm nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình Ơn trộm cắp tài sản khoản 1 Điều 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Ơ phạm tội Trộm cắp tài sản ;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2021/HS-ST
Ngày: 28-4-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tứ Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kia và ông Bùi Sỹ Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Huyền Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2021/TLST-HS ngày 13/4 /2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2021/QĐXXST-HS ngày 14/4/2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình Ơ; sinh ngày 28/10/1979 tại A, Gia Lai; nơi cư trú: Thôn An Điền Bắc, xã C, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nghề nghi p: Làm nông; trình độ văn h a: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Trươg Thị T; vợ là Trịnh Thị Tuyết S; bị cáo c 03 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án: Ngày 17/8/2004 bị Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Đồng Nai xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội trộm cắp tài sản, bị cáo chưa chấp hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm; Ngày 01/4/2005, bị Tòa án nhân dân huy n T, tỉnh Bình Định xử phạt 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 33 tháng tù. Ngày 01/6/2007, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù nhưng đến nay chưa chấp hành xong án phí và số tiền truy thu để sung quỹ nhà nước; tiền sự: Không; bị áp dụng bi n pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/11/2020 cho đến nay; bị cáo tại ngoại; c mặt.

- Bị hại:

1. Trần Văn D, sinh năm 1966; trú tại: Thôn 1, xã TA, thị xã A, tỉnh Gia Lai; c mặt

2. Nguyễn Thị D1, sinh năm 1972; trú tại: Thôn 1, xã TA, thị xã A, tỉnh Gia Lai; c mặt

-

i c

n i n h a iên an n án:

1. Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1987; trú tại: Tổ 2, phường A1, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt anh Tới c đƠ xin xét xử vắng mặt).

2. Trịnh Thị Tuyết SưƠg, sinh năm 1982; trú tại: Thôn An Điền Bắc, xã C, thị xã A, tỉnh Gia Lai; c mặt

-

i m ch n : Võ Đức H, sinh năm 1990; trú tại: Thôn 2, xã TA, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt như sau: Sáng ngày 15/10/2020, Nguyễn Đình Ơ điều khiển xe máy nhãn hi u HONDA VISION màu xanh nâu biển số 81G1-203.33 từ nhà ở thôn An Điền Bắc, xã C đến xã TA để tìm mua cây vú sữa. Khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, Ơ đến nhà ông Trần Văn D và bà Nguyễn Thị D1 ở Thôn 1, xã TA, thị xã A. Ơ dựng xe bên ngoài rồi đi vào trong sân, thấy cửa đường luồn bên hông nhà không khóa, Ơ đi vào trong nhà thấy không c ai. Lúc này, Ơ phát hi n c 02 chiếc đi n thoại di động 01 đi n thoại Samsung màu hồng nhạt và 01 đi n thoại Oppo A1K màu đỏ) để trong chiếc mũ vải đặt trong thùng giấy gần cửa sổ. Thấy vậy, Ơ nảy sinh ý định chiếm đoạt hai chiếc đi n thoại này để bán lấy tiền tiêu xài. Ơ tiến lại dùng tay lấy hai chiếc đi n thoại bỏ vào túi quần, rồi điều khiển xe mô tô chạy đến ti m đi n thoại di động của anh Nguyễn Ngọc T tại Tổ 2, phường A1 bán cho anh T chiếc đi n thoại Samsung màu hồng nhạt với giá 700.000đ bảy trăm nghìn đồng). Sau khi bán đi n thoại, Ơ về nhà, khi đi qua Ủy ban nhân dân xã C thì bị lực lượng Công an xã phát hi n.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A thu giữ các vật chứng gồm:

- 01 chiếc đi n thoại di động nhãn hi u OPPO màu đỏ loại A1K c ốp nhựa dẻo đã qua sử dụng, c số imei1: 862762046154276, số imei: 862762046154268; Tiền Ngân hàng Nhà nước Vi t Nam 2.700.000đ; 01 xe máy nhãn hi u HONDA VISION màu xanh nâu biển số 81G1-203.33, số máy JF66E0568881, số khung RLHJF5811GY825344 đã qua sử dụng; 01 đăng ký xe máy số: 013346, xe biển số 81G1-203.33 mang tên Trịnh Thị Tuyết S, sinh năm 1982; 01 sim Viettel số 0355163670 c số seri 8984048000073641763 và 01 sim Viettel số 0385362146 c số seri 8984048000064886473 do Nguyễn Đình Ơ giao nộp.

- 01 đi n thoại di động nhãn hi u Samsung (J4+) màu hồng nhạt, màn hình màu đen, g c trái phía trên màn hình bị nứt vỡ, số imei1: 352987101510396, số imei: 352988101510394 do Nguyễn Ngọc T giao nộp.

Ngày 27/11/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã trả lại cho ông Trần Văn D 01 chiếc đi n thoại di động nhãn hi u OPPO màu đỏ loại A1K có ốp nhựa dẻo đã qua sử dụng, c số imei1: 862762046154276, số imei: 862762046154268 và 01 sim Viettel số 0355163670 c số seri 8984048000073641763; trả cho bà Nguyễn Thị D1 01 đi n thoại di động nhãn hi u Samsung (J4+) màu hồng nhạt, màn hình màu đen, g c trái phía trên màn hình bị nứt vỡ, số imei1: 352987101510396, số imei: 352988101510394 và sim Viettel số 0385362146 c số seri 8984048000064886473.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 65/KLĐGTS ngày 27/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A kết luận:

1. Giá trị còn lại của 01 (một) chiếc đi n thoại di động nhãn hi u OPPO màu đỏ, số imei1: 862762046154276, số imei: 862762046154268 đã qua sử dụng) là 2.690.000đ x 90% = 2.421.000đ hai tri u, bốn trăm hai mươi mốt nghìn đồng)

2. Giá trị của ốp nhựa đi n thoại dẻo trong đã qua sử dụng): 50.000đ năm mươi nghìn đồng).

3. Giá trị còn lại của chiếc đi n thoại di động nhãn hi u SAMSUNG, màu hồng nhạt, số imei1: 352987101510396, số imei: 352988101510394 đã qua sử dụng): 2.500.000đ x 33,33% = 833.000đ tám trăm ba mươi ba nghìn đồng).

4. Đối với tài sản là 02 chiếc sim viettel c số trên sim 8984048000073641763 và 8984048000064886473: qua khảo sát thị trường, hai sim Viettel không c giá trị tương đương 0 đồng.

Tổng giá trị tài sản: 3.304.000đ ba tri u, ba trăm lẻ bốn nghìn đồng).

Tại Bản cáo trạng số: 04A/CT-VKS ngày 12/4/2021 của Vi n kiểm sát nhân dân thị xã A đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình Ơ về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại di n Vi n kiểm sát nhân dân thị xã A giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Ơ phạm tội Trộm cắp tài sản ; đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 02 đến 02 năm 06 tháng tù.

Về dân sự: Đề nghị buộc bị cáo Nguyễn Đình Ơ phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị D1 2.000.000đ tiền sửa đi n thoại bị hư hỏng và bồi thường cho người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Ngọc T với số tiền 700.000đ.

Đề nghị sử dụng số tiền 2.700.000đ mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã tạm giữ của bị cáo và bị cáo tự nguy n nộp và đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/02/2021 để bồi thường cho bà Nguyễn Thị D1 2.000.000đ và bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc T 700.000đ.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại cho chị Trịnh Thị Tuyết S 01 xe máy nhãn hi u HONDA VISION màu xanh nâu biển số 81G1-203.33, số máy JF66E0568881, số khung RLHJF5811GY825344 đã qua sử dụng; 01 đăng ký xe máy số: 013346, xe biển số 81G1-203.33 mang tên Trịnh Thị Tuyết S, sinh năm 1982.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình Ơ thừa nhận vào sáng ngày 15/10/2020 đã trộm cắp của vợ chồng ông Trần Văn D và bà Nguyễn Thị D1 ở Thôn 1, xã TA, thị xã A 02 chiếc đi n thoại di động như Cáo trạng của Vi n kiểm sát đã truy tố. Mục đích bị cáo đến xã TA, thị xã A là để tìm mua cây vú sữa về bán lại. Khi vào nhà ông Trần Văn D và bà Nguyễn Thị D1 thấy 02 chiếc đi n thoại để trong chiếc mũ vải đặt trong thùng giấy gần cửa sổ không c người trông coi nên mới nảy sinh ý đinh trộm cắp. Bị cáo chấp nhận bồi thường cho bà Nguyễn Thị D1 2.000.000đ và bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc T 700.000đ theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị D1 và anh Nguyễn Ngọc T. Bị cáo thừa nhận trước khi phạm tội đã hai lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản và đã chấp hành xong hình phạt. Đối với nghĩa vụ thi hành án về án phí và khoản tiền truy thu để nộp vào ngân sách nhà nước theo Bản án số 48/HS-ST ngày 17/8/2004 của Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Đồng Nai và Bản án số 06/2005/HS-ST ngày 01/4/2005 của Tòa án nhân dân huy n T, tỉnh Bình Định bị cáo chưa thực hi n.

Tại phiên tòa ông Trần Văn D và bà Nguyễn Thị D1 trình bày: Vào sáng ngày 15/10/2020 vợ chồng ông bà đi làm c để 02 đi n thoại di động trong mũ gần cửa sổ thì bị trộm cắp. Quá trình điều tra xác định Nguyễn Đình Ơ là người trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã thu hồi 02 chiếc đi n thoại n i trên trả lại cho vợ chồng ông bà. Đối với chiếc đi n thoại màu đỏ hi u Oppo của ông D không bị hư hỏng gì nên ông không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Riêng đối với chiếc đi n thoại hi u Samsung của bà Nguyễn Thị D1 bị hư hỏng nên bà D1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bà 2.000.000đ để sửa chữa đi n thoại. Ông Trần Văn D và bà Nguyễn Thị D1 đều yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt cho bị cáo.

Lời khai của anh Nguyễn Ngọc T là người c quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án thể hi n: Vào ngày 15/10/2020 c một người đàn ông đến bán cho anh 01 chiếc đi n thoại di động nhãn hi u Samsung màu hồng nhạt, sau khi kiểm tra anh mua với số tiền 700.000đ. Quá trình điều tra xác định chiếc đi n thoại trên là do trộm cắp mà c nên anh đã nộp lại cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A. Khi mua đi n thoại anh không biết Nguyễn Đình Ơ đã trộm cắp để bán cho anh nên anh yêu cầu Nguyễn Đình Ơ phải trả lại cho anh số tiền 700.000đ.

Tại phiên tòa, người c quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Trịnh Thị Tuyết S trình bày: Chiếc xe máy nhãn hi u HONDA VISION màu xanh nâu, biển số 81G1-203.33 thuộc sở hữu của chị. Vi c bị cáo Nguyễn Đình Ơ trộm cắp tài sản vào ngày 15/10/2020 chị hoàn toàn không biết. Vì vậy, chị yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho chị chiếc xe trên để làm phưƠg ti n đi lại trong gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân thị xã A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đ , hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n là hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các chứng cứ, tài li u c tại hồ sơ vụ án do đ đã c đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 15/10/2020 tại nhà ông Trần Văn D và bà Nguyễn Thị D1 ở Thôn 1, xã TA, thị xã A, tỉnh Gia Lai, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong vi c quản lý tài sản, bị cáo Nguyễn Đình Ơ đã lén lút chiếm đoạt của ông Trần Văn D 01 chiếc đi n thoại di động nhãn hi u OPPO màu đỏ loại A1K c ốp nhựa dẻo đã qua sử dụng và chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị D1 01 đi n thoại di động nhãn hi u Samsung (J4+) màu hồng nhạt đã qua sử dụng, tổng trị giá 3.304.000đ (ba tri u, ba trăm lẻ bốn nghìn đồng). Vì vậy, đã đủ cơ sở tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Ơ phạm tội Trộm cắp tài sản .

Trước khi phạm tội bị cáo đã hai lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản. Mặc dù ngày 01/6/2007 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt nhưng đến nay bị cáo chưa chấp hành nghĩa vụ về dân sự theo Bản án số 48/HS-ST ngày 17/8/2004 của Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Đồng Nai và Bản án số 06/2005/HS-ST ngày 01/4/2005 của Tòa án nhân dân huy n T, tỉnh Bình Định do đ bị cáo chưa được x a án tích. Như vậy, bị cáo đã tái phạm, chưa được x a án tích lại thực hi n hành vi phạm tội do cố ý là trường hợp Tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhi m hình sự với tình tiết tăng nặng định khung Tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nh trách nhi m hình sự: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguy n bồi thường thi t hại cho bị hại; tại phiên tòa bị hại xin giảm nh hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nh trách nhi m hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nh một phần hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự nào.

Về hình phạt: Xét bị cáo c nhân thân xấu, đã hai lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản nhưng không lấy đ làm bài học lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo v . Do vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù c thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, xét bị cáo phạm tội nhưng c nhiều tình tiết giảm nh trách nhi m hình sự; phương thức thực hi n hành vi phạm tội đơn giản; giá trị tài sản chiếm đoạt không lớn; nguyên nhân bị cáo chưa được x a án tích và phải chịu tình tiết tăng nặng định khung Tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là do bị cáo chưa thực hi n nghĩa vụ thi hành án về dân sự theo Bản án số 48/HS-ST ngày 17/8/2004 của Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Đồng Nai và Bản án số 06/2005/HS-ST ngày 01/4/2005 của Tòa án nhân dân huy n T, tỉnh Bình Định. Vì vậy cần căn cứ khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo vi phạm cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe.

Đối với anh Nguyễn Ngọc T c hành vi mua tài sản do Nguyễn Đình Ơ mang đến, khi mua anh T không biết tài sản do Ơ trộm cắp mà c nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã không xử lý về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà c là c căn cứ.

Về dân sự: Bị hại Nguyễn Thị D1 yêu cầu bị cáo bồi thường 2.000.000đ tiền sửa đi n thoại bị hư hỏng; người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Ngọc T yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 700.000đ. Xét yêu cầu bồi thường thi t hại do tài sản bị xâm phạm của bà Nguyễn Thị D1 và anh Nguyễn Ngọc T là c căn cứ. Tại phiên tòa bị cáo chấp nhận bồi thường theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị D1 và anh Nguyễn Ngọc T. Vì vậy, cần buộc bị cáo bồi thường cho bà Nguyễn Thị D1 2.000.000đ và bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc T 700.000đ.

Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã tạm giữ của bị cáo 2.450.000đ vào ngày 15/10/2020 và bị cáo tự nguy n nộp 250.000đ vào ngày 05/01/2021 mục đích để bồi thường thi t hại. Tổng cộng là 2.700.000đ và đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/02/2021. Xét thầy cần sử dụng số tiền này để bồi thường cho bà Nguyễn Thị D1 2.000.000đ và bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc T 700.000đ.

Về xử lý vật chứng: Xét chiếc xe máy hi u HONDA loại VISION màu sơn xanh nâu biển số 81G1-203.33 và 01 đăng ký xe máy số 013346 mang tên Trịnh Thị Tuyết S do chị Trịnh Thị Tuyết S đứng tên chủ sở hữu. Vi c bị cáo Nguyễn Đình Ơ thực hi n hành vi trộm cắp tài sản chị S không biết. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị S trả lại cho chị S chiếc xe máy hi u HONDA loại VISION màu sơn xanh nâu biển số 81G1-203.33 và 01 đăng ký xe máy số 013346 mang tên Trịnh Thị Tuyết S.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Do bị cáo đã nộp đủ số tiền để bồi thường cho bị hại và người c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nên bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các ẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án;

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Ơ phạm tội Trộm cắp tài sản ;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Ơ 12 tháng tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày vào trại chấp hành án.

2. Về dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Đình Ơ phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị D1 số tiền 2.000.000đ hai tri u đồng) và anh Nguyễn Đình T số tiền 700.000đ bảy trăm nghìn đồng).

Sử dụng số tiền 2.700.000đ hai tri u bảy trăm nghìn đồng) mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/02/2021 để bồi thường cho cho bà Nguyễn Thị D1 2.000.000đ và bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc T 700.000đ.

3. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho chị Trịnh Thị Tuyết S 01 xe máy nhãn hi u HONDA VISION màu xanh nâu biển số 81G1-203.33, số máy JF66E0568881, số khung RLHJF5811GY825344 đã qua sử dụng; 01 đăng ký xe máy số: 013346, xe biển số 81G1-203.33 mang tên Trịnh Thị Tuyết S, sinh năm 1982.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đình Ơ phải nộp 200.000đ hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Trong thời hạn 15 mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (28/4/2021), bị cáo, bị hại, người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án c quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa c quyền kháng cáo trong thời hạn 15 mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp l .

Cỡ chữ